Sán lá phổi
Sán lá phổi là loại ký sinh trùng gây bệnh trên người được biết đến từ lâu. Hiện nay đã phát hiện trên 40 loài, trong đó có hơn 10 loài ký sinh ở người. Bệnh sán lá phổi (Paragonimiasis) là bệnh ký sinh trùng truyền qua đường ăn uống.
Sán lá phổi trưởng thành to bằng hạt cà phê, dài 7 – 16mm, rộng 4 – 8mm, dày 3 – 4mm, có số lượng, kích thước và hình dạng khác nhau trong các chủng cùng loài.
Đây là loài lưỡng tính, nghĩa là trên cùng một cơ thể có 2 bộ phận sinh dục đực và cái. Tuy vậy, sán lá phổi thường cặp đôi với nhau và đẻ trứng.
Sán lá phổi ký sinh ở tiểu phế quản, đẻ trứng, trứng theo đờm ra ngoài, hoặc nếu bệnh nhân nuốt đờm thì trứng sẽ xuống dạ dày – ruột (không bị tiêu hủy bởi dịch tiêu hóa) rồi theo phân ra ngoài. Trứng rơi xuống nước, gặp điều kiện thuận lợi sau 16 – 60 ngày mới nở ra ấu trùng lông, xâm nhập vào ốc (vật chủ phụ thứ nhất) sau khoảng 9 – 13 tuần phát triển thành ấu trùng đuôi; ấu trùng đuôi rời khỏi ốc để chui vào giáp xác như tôm, cua, nước ngọt (vật chủ phụ thứ hai), tạo nang trùng ở trong thịt và phủ tạng.
Khi con người hay súc vật thích hợp (vật chủ chính), ăn phải tôm, cua có ấu trùng sán lá phổi chưa được nấu chín, ấu trùng sán vào dạ dày và ruột, xuyên qua thành ống tiêu hóa vào ổ bụng rồi từng đôi một xuyên qua cơ hoành và màng phổi vào phế quản phổi để làm tổ ký sinh và đẻ trứng ở đó.
Thời gian từ khi ăn phải ấu trùng đến khi có sán trưởng thành mất 5 – 6 tuần. Thời gian sống trung bình của sán lá phổi trong cơ thể người là 6 – 16 năm, nhưng cũng có bệnh nhân mắc bệnh trên 30 năm không tự khỏi.
Tuy nhiên, có một điểm đáng chú ý, với một số động vật như: ếch, gà, vịt, lợn rừng, chuột cống mà ăn phải các loại tôm – cu có chứa nang sán lá phổi, thì khi đó trong cơ thể các loại động vật này sẽ có sán lá phổi non chưa phát triển hoặc phát triển không đầy đủ. Nếu con người ăn phải thịt của những vật chủ có chứa sán non, sán sẽ tiếp tục phát triển như bình thường.
Khi cơ thể người nhiễm sán lá phổi với những ổ áp xe nhỏ cỡ bằng đầu ngón tay, hầu hết sẽ bị áp xe ở trong phổi, gây chảy máu và ho ra máu; ho ra máu thường kéo dài, tiến triển từng đợt cấp tính, ho ra máu màu rỉ sắt, nâu hoặc đỏ; hầu hết không sốt (trừ trường hợp bội nhiễm); tức ngực, khó thở là triệu chứng không đặc hiệu; có thể có tràn dịch màng phổi khi sán ký sinh trong màng phổi, cơ thể ít suy sụp. Ngoài ra, sán lá phổi có thể ký sinh ở màng ngoài tim, phúc mạc, dưới da, gan, ruột, não, tinh hoàn… Tại những cơ quan này, sán lá phổi tạo nên những ổ áp xe đặc hiệu.
Chẩn đoán chủ yếu dựa vào các triệu chứng đặc trưng như ho ra máu, tràn dịch màng phổi… kết hợp yếu tố dịch tễ liên quan vùng lưu hành sán lá phổi. Chẩn đoán xác định là tìm thấy trứng sán lá phổi trong đờm hoặc trong dịch màng phổi hoặc trong phân. Khi xét nghiệm máu có tỷ lệ bạch cầu ái toan tăng cao; trên hình ảnh X-quang phổi, các tổn thương nốt mờ, mảng mờ có hang nhỏ luôn luôn là triệu chứng chủ yếu, hạch phổi sưng to và các tổn thương phổi ở vùng thấp nhiều hơn.
Hiện nay, Praziquantel được chọn là thuốc trị sán lá phổi tốt nhất, ngoài ra có thể dùng Triclabendasole cũng có tác dụng với sán lá phổi. Cách tốt nhất là đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, không ăn thực phẩm chưa được nấu chín, đặc biệt không nên ăn tôm cua chưa được nấu kỹ, nhất là các loại tôm cua nướng.








