Quẻ Nhu - một trang cổ sử đã bị lãng quên
Thượng Lục : Đời sống trong hang động
Cữu ngũ: Chuyển từ tập quán ăn sống sang ăn chín.
Lục tứ: Rời bỏ hang động đến vùng trung du.
Cửu tam: Canh tác ở ruộng trũng vùng đầm lầy.
Cửu nhị: Xuống đồng bằng
Sơ cửu: Tiến đến nhà nước văn minh.
Giai đoạn I:Nguyễn văn Hào Thượng Lục : “Nhập vu huyệt, hữu bất tốc chi khách tam nhân lai, kính chi chung cát”.
Tự Điển Chu Dịch giải thích: “Vào trong hang, có ba người khách không mời mà đến thăm, cung kính tiếp đãi họ, cuối cùng sẽ được tốt lành. Huyệt chỉ cho hiểm cực, ba người chỉ ba hào dương ở hạ quái”.
Bản nghĩa Chu Hy: Hào âm, ở chỗ hiểm cực,không còn chờ đợi, có tượng bị hãm vào trong hang, Hào Thượng lục ứng với hào Cửu tam. Cửu tam thấy Thượng lục bị nạn cùng kéo hào Cửu nhị và Sơ cửu đến cứu (không mời mà đến).
Cách giải này thiên về mặt chiêm bốc. Với Văn Lang lời hào rất là giản đơn,chỉ là một câu ký sự nói về nơi cư trú của bầy đoàn người tiền sử.
Huyệt là hang động, là sơn động, là nơi cư trú của người nguyên thủy (tiếng Thái gọi hang động là thẩm/ thẳm). Những răng hóa thạch phát hiện được ở Thẩm Hai, Thẩm Khuyên, Kéo Lèng (Lạng Sơn), ở hang Thẩm Ồm (Nghệ An), ở hang Hùn (Yên Bái), những hài cốt tìm thấy ở hang Nậm Tun (Lai Châu) cho phép xác định người nguyên thủy đã hiện diện khá lâu trên lãnh thổ Việt Nam, họ là những người cư trú chủ yếu ở hang, sống dựa vào hái lượm săn bắt.
Ở hang Thẩm Vài (thuộc thôn Bản Câm, xã Phúc Sơn, huyện Chiêm Hóa, tỉnhTuyên Quang), “Dựa vào nghiên cứu tổng thể các di vật, vào kết cấu trầm tích địa tầng văn hóa, các nhà khảo cổ cho rằng, Thẩm Vài là di tích cư trú của nhiều thế hệ cư dân nguyên thủy. Lớp cư trú sớm nhất thuộc cư dân văn hóa Hòa Bình muộn, có niên đại khoảng 8.000 năm cách ngày nay, lớp cư trú muộn thuộc giai đoạn hậu kỳ đá mới có niên đại khoảng 4.000 năm cách nay”. (Quan Văn Dũng - Báo Tiền Phong)
Tại hang đá Ngườm Bốc, xã Hồng Việt, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng các nhà khảo cổ Việt Nam đã phát hiện một số di tích cư trú của người nguyên thủy cách đây khoảng 10.000 năm.
Hào Thượng Lục nói “nhập vu huyệt” là ý chỉ người Cổ Việt ban sơ phải trú ẩn trong hang động để có chỗ che mưa, che nắng, đề phòng thú dữ. Hào này lại là hào âm, phù hợp với hình thái xã hội ban đầu của người nguyên thủy, người phụ nữ làm chủ. James O’ Connell, nhà nhân chủng học, Đại học Utah (Mỹ), cho rằng, không phải người đàn ông mà chính người mẹ mới là người giữ vai trò chủ đạo trong cuộc sống người nguyên thủy. Người phụ nữ không những sinh con, nuôi con, hái lượm để nuôi sống gia đình mà họ còn phụ trách cả việc đánh đuổi những con thú để giành lại con mồi trong miệng chúng. Trong hang động, người nguyên thủy không sống lẻ loi, mà sống quần cư, có người vào hang trước có người vào hang sau, nhưng họ sống tương thân với nhau, nên hào từ gọi những người đến sau là những người khách không mời mà đến, tất cả đều được đón tiếp niềm nỡ, cuộc sống của họ vì vậy chung cuộc đều yên bình tốt đẹp cả (chung cát).
Giai đoạn II: Hào Cữu ngũ : “Nhu vu tửu thực, trinh cát”.
Vương Bật - Chu Dịch chú “Cửu ngũ đã được ngôi cao, giữ được trung chính thì chẳng phải làm điều gì, vì vậy chỉ việc yên vui cơm rượu để chờ đợi mà thôi, và thu được trinh cát vậy”.
Theo tinh thần Văn Lang, giai đoạn này có thể con người vẫn còn ở hang động hoặc có khi họ đã rời hang ra ngoài cư trú, nhưng đặc biệt trong giai đoạn cửu ngũ so với giai đoạn thượng lục đời sống người cổ Việt có sung túc hơn. Cuộc sống có ý vị hơn, họ đã tìm ra lửa từ những đám cháy rừng, đã biết giữ lửa trong hang, đốt ngọn lửa bùng lên để sưởi ấm. Với lửa họ đã thay đổi tập quán, không còn ăn sống mà đã biết nướng con mồi chín vàng trên ngọn lửa. Những trái cây họ hái được hay lượm được đem về cất giữ đã chuyển hóa cho một chất nước có mùi hăng nồng, giúp họ ăn ngon miệng hơn, sảng khoái hơn, ấm người hơn khiến họ có thể chịu dựng những cơn rét mướt. Đồ ăn thức uống dồi dào đã cho họ thêm sức mạnh, họ cảm thấy bữa ăn nào cũng như bữa tiệc. Đó đúng là nhu cầu thiết cốt của cuộc sống (nhu vu tửu thực).
Giai đoạn III: Hào Lục tứ : “ Nhu vu huyết,xuất tự huyệt” (Chờ đợi ở vũng máu, ra khỏi hang)
Bản nghĩa Chu Hy cho rằng: “máu là chỗ bị giết hại, huyệt là chỗ hiểm sâu”.
Thượng Bỉnh Hòa - Chu Dịch Thượng thị học nói huyết dùng như “hức” là mương nước, ngòi nước. Lưu Đại Quân cũng hiểu như vậy.
Theo tinh thần Văn Lang, con người đến giai đoạn này đã bắt đầu từ bỏ hang động, họ kéo nhau ra khỏi huyệt (xuất tự huyệt), đi lần xuống những vùng đất thấp, nhưng họ vẫn chưa dám đi xa, họ định cư ở những nơi gần nguồn nước (nhu vu huyết/ hức). Đây là giai đoạn người Việt đến ở trên các vùng gò đồi miền trung du, dùng phương pháp “đao canh hỏa chủng” để canh tác (dùng lửa đốt cây cỏ rồi mới xới đất). “Miền trung du thuộc các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây là vùng đất cao. Hiện nay ở đây có ba thứ ruộng: chân ruộng chiêm ở những nơi có thế đất trũng, chân ruộng mùa và chân ruộng hai mùa. Căn cứ vào những địa danh ở vùng gò đồi trọc hiện nay có thể biết xưa kia nơi đây có rừng bao phủ. Ngày nay những địa điểm có tên gọi như: rừng Cấm, rừng Cả, rừng Giỏ Gan… chỉ là những quả đồi trọc liên tiếp như bát úp. Kết quả nghiên cứu thổ nhưỡng cũng nói lên điều đó. Các nhà thổ nhưỡng học cho rằng miền gò đồi trọc, đất đã rắn thành đá ong này là kết quả của lối làm ruộng theo kiểu “làm nương đốt rẫy” trước đây. Đất đai ở đây bạc màu nhiều so với những miền trung tâm và miền phía nam đồng bằng. Người ta đã đến ở đây sớm hơn các miền khác của đồng bằng…” (Văn Tân - Thời đại Hùng Vương, nxb Khoa học xã hội, HN - 1973, tr 71)
Giai đoạn IV: Hào Cửu tam : “Nhu vu nê,chí khấu chí”.
Nê là bùn lầy.
Khổng Dĩnh Đạt - Chu Dịch chính nghĩa : “Bùn là chỗ gần nước sát ngay sự nguy hiểm. Nếu cứ tiến theo dường đó mình sẽ gặp họa hại”.
Theo tinh thần Văn Lang, đây là giai đoạn người cổ Việt đến sinh sống ở nơi ruộng trũng quanh các đầm ao. Nơi đây đất mềm lại nhiều nước, họ chỉ cần lấy chân giẫm cho cỏ sục bùn rồi cấy lúa. Cách canh tác này Lĩnh Nam chích quái gọi là phương pháp “thủy nậu”. Diệc Văn lang gọi đó là giai đoạn “nhu vu nê”, giai đoạn con người sống nhờ sự cung ứng lương thực ở nơi những bãi lầy. Người Việt có tập quán tụ cư quanh các ao đầm, đó là nơi họ kiếm cái ăn, nhưng cũng là nơi họ sinh hoạt hằng ngày tắm rửa, giặt giũ, đến khi có lễ hội họ lấy nơi đây làm nơi giải trí, tổ chức bơi chãi, hát giao duyên.
Đến giai đọan này đời sống của người Việt đã khá sung túc, lương thực tích trữ dồi dào. Sự giàu có của họ khiến cho những bộ tộc lân bang dòm ngó, nảy sinh lòng tham muốn cướp giật (trí khấu chí), chiến tranh vì vậy có khi không tránh khỏi.
Dịch được khai sinh trên đất Văn Lang là xứ nông nghiệp có đất đai phì nhiêu, có khí hậu nhiệt đới thích hợp cho sự phát triển của cây lúa, nhất là lúa nước. Trong nông nghiệp, nước là yếu tố hàng đầu mà sấm thì lại góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy những cơn mưa, sấm giúp tạo đạm góp phần trong sự phát triển của cây lương thực “lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”, trái lại sấm đối với dân du mục chỉ mang đến cho họ và đàn súc vật họ chăn những nỗi hãi hùng. Điều này cho thấy Dịch là sản phẩm của dân nông nghiệp chớ không thể là của dân du mục. Sự hiện diện của quẻ Đoài lại càng kiện chứng thêm cho nhận định trên.
Ở miền Bắc nước ta, ao nhà, ao làng, lễ hội trên ao, đầm là một sắc thái khá đặc biệt của miền này, ngay cả khi so sánh với hai miền còn lại của Tổ quốc.
![]() |
Những người đọc Dịch ắt đã có lúc tự hỏi tại sao Đoài lại có tượng là vui, thì có thể tìm thấy câu trả lời khi có dịp tham gia vào những lễ hội diễn ra trên ao, trên đầm, rộn ràng với màu cờ ngũ sắc, hay có lúc nhìn những cô gái thướt tha bên cầu ao, nghe những câu hát tình tứ vang lên trên mặt ao vào những buổi chiều tà hay những đêm trăng sáng chắc sẽ cảm nhận được niềm vui của xứ “Đoài”, nơi phát sinh ra Dịch.
Giai đoạn V:Hào Cửu nhị : “Nhu vu sa, tiểu hữu ngôn, chung cát”.
Chờ đợi ở bãi sông, hơi bị tai tiếng, cuối cùng vẫn tốt.
Theo tinh thần Văn lang, câu “tiểu hữu ngôn, chung cát”, có lẽ được thêm vào để phục vụ bói toán. Nhưng cũng có thể hiểu là con người một khi quần tụ với nhau làm sao tránh khỏi những chuyện thị phi, tuy nhiên cũng không đến nỗi gay gắt lắm, nên chung cuộc đời sống vẫn an bình.
Nhu vu sa là bãi cát ven sông, chỉ một địa điểm gần sông, con người càng ngày càng tiến bộ thường chọn những vị trí gần sông để sinh sống. Người cổ Việt cũng vậy, càng ngày dụng cụ canh tác của họ càng phong phú, đủ độ cứng, đủ chức năng hơn, đã dẫn họ đi xuống phía nam, đến bờ những con sông lớn. Họ đã đến ven sông Hồng sông Mã, nơi đây ruộng đất màu mỡ, hằng năm phù sa các con sông dâng lên tràn ngập ruộng đồng làm cho độ phì của đất tăng lên rất thuận lợi cho việc canh tác. Lương thực càng ngày càng nhiều, dân số càng ngày càng tăng đã đến lúc họ chuyển đời sống nông dân thành thị dân, tập hợp thành quốc gia, xây dựng thành đô, ấy là lúc họ đủ điều kiện bước sang giai đoạn hào Sơ Cửu: Nhu vu giao.
Giai đoạn VI:Hào Sơ cửu : “Nhu vu giao, lợi dụng hằng, vô cữu”.
Giao có hai nghĩa 1) là vùng đất ngoại thành (ấp ngoại), 2) nơi để tế trời (giao thiên).
Đất ngoại thành thì rộng, nên nhiều người dịch “Chờ đợi nơi vùng đất rộng, giữ được hằng tâm, không có họa hại”.
Theo tinh thần Văn Lang đây là giai đoạn cuối, người Việt đã tiến những bước khá dài trên con đường mở nước dựng nước, rời bỏ hang động, họ đến làm nương rẫy trên những gò đồi miền trung du, khai phá những thửa ruộng trũng quanh các đầm hồ, rồi dừng bước bên những cánh đồng phù sa màu mỡ ven sông, đời sống ngày một nâng cao, họ không thể sống riêng lẻ từng nhóm người mà phải tập hợp thành cộng đồng, có tổ chức, có pháp chế. Bấy giờ miếng ăn sinh tồn đã được giải quyết, vật chất đã phần nào ổn định, họ có nhu cầu đòi hỏi cái gì cao hơn, họ muốn thỏa mãn nhu cầu tâm linh. Đây là giai đoạn Dịch gọi là “nhu vu giao”. Giao ở đây là tế giao, thờ trời. Giai đoạn con người đã văn minh, đã biết đúc trống đồng giữa có mặt trời biểu hiện lòng tôn kính trời đất, biết thờ cúng tổ tiên, biết đoàn kết, biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong tình nghĩa đồng bào. Với niềm tin như thế mọi người hãy bình tâm vững chí (lợi dụng hằng), không kẻ thù nào có thể xâm hại đất nước Văn Lang (vô cữu).
Một câu nói khi bị tách khỏi ngữ cảnh của nó thì rất dễ bị hiểu sai, bị xuyên tạc. Kinh Dịch cũng vậy. Dịch nguyên gốc có tên là Diệc, được viết trong bối cảnh Văn Lang, viết sau thời kỳ biển tiến, sau trận hồng thủy đã nhận chìm một phần đất đai của tổ quốc ta xuống biển. Diệc được hình thành trước hết để phục vụ đời sống người Văn Lang, nó phản ánh những ưu tư trăn trở của người Văn Lang. Diệc chính là cuốn Sử Văn hóa của người Việt thời cổ đại, Diệc lưu lạc sang đất Trung Hoa, cải tên là Dịch, khoát lên mình bộ áo chiêm bốc, hoàn toàn thoát ly bối cảnh Văn Lang. Người Trung Hoa đọc Diệc thành Dịch nghĩa là đã xa rời căn gốc của Diệc tất nhiên sẽ không tránh khỏi việc hiểu sai, xuyên tạc ngữ cảnh. Cho nên chỉ có đọc Diệc trong bối cảnh Văn Lang thì văn mạch mới liên thông, ý tứ thông suốt như nước chảy xuôi dòng, còn đọc theo cách của người Trung Hoa chỉ làm cho văn mạch của Dịch trúc trắc trục trặc huyền bí khó hiểu.









