Quan niệm về cách dùng người của Lê Quý Đôn
Theo Lê Quý Đôn, đã là quan chức phải đạt yêu cầu nhất định về đức và tài. Về đức, ông thường khẳng định: “ Ba chữ thanh cần thận là đạo bù trong lúc làm quan” (Kiến văn tiểu lục). Thanh là thanh liêm, trong sạch; cần là cần cù; thận là thận trọng. Ngoài ba đức tính trên, Lê Quý Đôn còn nêu lên đức “kiệm” và đức “chính” nữa. Trong Kiến văn tiểu lục, dẫn lời Ngô Dụng Am, Lê Quý Đôn đề cao những tấm gương tiết kiệm, giản dị của Thừa tướng Gia Cát Lượng thời Tam Quốc, Tể tướng Vương An Thạch thời Tống, Tướng quốc Tiêu Hà thời Tây Hán ở Trung hoa “ Người vợ xấu của Vũ Hầu, con ngựa què của Kinh Công, viên tướng quốc họ Tiêu làm nhà không sửa sang từ nóc, xét đến hành vi của triết nhân đời trước không có gì là không đáng làm khuôn phép”. Ông kết luận rằng “ Từ xưa những người làm nên cơ nghiệp vĩ đại đều do ở tính đạm bạc cả”. Đức “chính” theo quan niệm của ông bao hàm phạm vi rộng hơn thanh liêm, vì ngay trong “chính” đã có thanh liêm, nhưng còn thêm cao thượng, cứng rắn nữa. Chẳng hạn, các quan chức đời Trần như Chu An, đời Lê sơ như Nguyễn Thiên Tích, Bùi Cẩm Hổ có đức tính mà trong Kiến văn tiểu lụcLê Quý Đôn ca ngợi: “ Đấy là những người trong trẻo, cứng rắn, cao thượng, thanh liêm, có phong độ như sĩ quân tử đời Tây Hán”.
Ông còn chú ý tới việc tuyển dụng người trẻ trong đôi ngũ quan lại của bộ máy nhà nước. Để góp phần trẻ hoá đội ngũ quan lại, cần đề cao đức tính không tham quyền cố vị, một phẩm chất cao thượng mà khó thực hiện được ở những quan chức cao cấp, nắm mọi đặc quyền, đặc lợi. Ở Vân đài loại ngữ, Lê Quý Đôn khẳng định: “ Người ta quý ở chỗ được ngôi cao để hành đạo, không phải để cầu lợi lộc”. Nhắc lại lời Tôn Huệ nhà Tấn, trong Kiến văn tiểu lụccó đoạn: “ Danh vị lớn không nên đeo mãi, công việc lớn không nên gánh vác mãi, uy vọng lớn không nên bám lấy mãi”.
Chính sách đãi ngộ có ảnh hưởng rất lớn tới việc hình thành, giữ gìn và nâng cao phẩm chất của đội ngũ quan lại. “ Việc đãi ngộ đúng đắn sẽ làm xuất hiện các phẩm chất cao quý ở quan chức”. Trong “Bài văn sách” ở kì thi Hương năm 1742 ông viết “ Bổng lộc cho người ta đủ ăn để giữ lấy chữ liêm”.
Về tài, ông cho rằng các quan chức phải thử thách trong thực tế, phải có học, được đào tạo công minh qua thi cử, phải đặt ra các cơ quan chuyên trách theo dõi kiểm tra quan chức, cho dân được góp ý tố giác quan chức. Trong Vân đài loại ngữ,dẫn Kinh Thư,ông cho rằng: “ Học sách cổ nhân rồi hãy ra làm quan”, dẫn Luận ngữ, ông yêu cầu “ học dồi dào rồi hãy làm quan”. Trong Kiến văn tiểu lụcông viết : “Con đường bổng lộc mở ta thì phương pháp thi cử càng nghiêm ngặt hơn, người điềm tĩnh được tiến lên, người cầu may bị sàng sẩy”. Ông đề cao Lê Thánh Tông đặt Ty Hiến sát sứ ở các đạo bên ngoài để xét những gian tà của quan, hiểu rõ nỗi u uẩn của dân.
Tuy nhiên, chính sách dùng người cũng không nên cứng nhắc, cũng phải xét đến những trường hợp đặc biệt. Trong Vân đài loại ngữ,dẫn bài “Minh về Phố Nham”, Lê Quý Đôn cho rằng:
“ Được người giỏi phải kíp dùng
Sao cho đạo cả được thông giữa đời
Nếu theo thông lệ dùng người
Nhân tài bỏ sót còn ai được dùng”
Đó là câu chuyện ông nói về Vũ Đinh - vua nhà Ân, mới gặp Phó Duyệt lần đầu đã dám mạnh dạn cất nhắc vượt bậc, phong thẳng Phó Duyệt làm Tể tướng trên mọi trọng thần lâu năm, dù trước đó ông chưa hề có thành tích với nhà Ân, chỉ là một người ken tường đắp đất. Vũ Đinh không lấy quá khứ ngự trị thiên hạ, cậy công trong quá khứ để hưởng mọi đặc quyền đặc lợi, hoặc bắt cả nước đi theo ý chỉ bất chính của mình. Việc cất nhắc những chức lớn chủ yếu phải nhìn vào trước mắt, thực tài, thực đức đáp ứng với hiện tại, đặt quyền lợi cá nhân, phe nhóm dưới quyền lợi quốc gia dân tộc. Chính nhờ thế mà Phó Duyệt có chỗ thi hành tài lớn, đưa nhà Ân vào con đường thịnh trị.
Ta thấy, tuy tư tưởng của Lê Quý Đôn là sản phẩm của nền giáo dục Nho giáo phong kiến, nhưng do được đi nhiều, học rộng, cộng thêm trí thông minh thiên bẩm, cho nên quan điểm của ông cũng có nhiều yếu tố mới. Việc đề cao vai trò của đạo đức, trẻ hoá đội ngũ quan lại; chế độ đãi ngộ hợp lý; chế độ thi cử nghiêm ngặt để tuyển chọn nhân tài… đó là những vấn đề không chỉ có ý nghĩa thiết thực cho xã hội đương thời, mà ít nhiều nó vẫn còn có giá trị trong sự nghiệp đổi mới đất nước của chúng ta hiện nay.
Chỉ tiếc rằng, Lê Quý Đôn lại muốn dựa vào chúa Trịnh, người nắm thực quyền hồi ấy, để thực hiện hoài bão làm nên sự nghiệp một nhà cải cách chính trị như Vương An Thạch. Song chúa Trịnh Sâm không phải là một minh quân. Hơn nữa, chế độ phong kiến thuở đó đang khủng hoảng, cứu còn khó nói chi đến phục hưng, đổi mới. Cho nên, những dự kiến của ông dù trong sáng hợp lý, vẫn chỉ là khát vọng trên giấy tờ.








