Quản lý bền vững nguồn nước ngọt
Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) năm 1999 phát cảnh báo của hai trăm nhà khoa học từ 50 quốc gia chỉ rõ "thiếu nước ngọt và BÐKH sẽ là những điều tồi tệ nhất trong thế kỷ 21". Hiện tại trên thế giới cứ năm người thì một người không có nước ngọt; cứ hai người thì một người thiếu điều kiện vệ sinh cần thiết nên mỗi ngày 30 nghìn em bé chưa đầy năm ngày tuổi bị chết; 48 quốc gia thiếu nước kinh niên, 20 nước khu vực Trung Ðông-Bắc Phi (MENA) thiếu trầm trọng nhất; năm 2025 cứ hai quốc gia thì một quốc gia thiếu nước; năm 2050 cứ bốn người thì ba người không được dùng nước sạch.
Các chuyên gia nêu ra một số nguyên nhân chính. Trước hết là, nguồn nước ngọt có hạn. Các nghiên cứu cho thấy, nước bao phủ 70% bề mặt quả đất, nhưng 97% là nước ở các đại dương. Trong 3% còn lại, phần lớn là băng, chỉ 0,08% là nước sông, hồ. Xét về cơ cấu địa chất, 81% lượng nước ngọt có thể sử dụng được nhưng trên thực tế 75% bị ô nhiễm do lũ, lụt.
Nhu cầu nước ngọt tăng.Với nhịp độ tăng dân số 80 triệu người/năm thì cứ 21 năm lượng nước sạch cần cho loài người tăng 20% (UNEP dự báo 20 năm tới tăng 40%). Hiện tại trồng trọt, chăn nuôi "uống" 70% lượng nước ngọt (để làm ra một tấn ngũ cốc tốn một nghìn tấn nước), vào năm 2020 lượng nước tưới tiêu toàn cầu tăng 17%. Thiếu nước ngọt làm tăng nghèo đói ở nông thôn của hàng loạt quốc gia ÐPT.
BÐKH làm cạn kiệt nguồn nước ngọt.Quỹ Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới, tháng 3-2007 báo động: hầu hết các con sông lớn trên thế giới "đang chết" một phần do BÐKH. Trong mười con sông lớn nhất hành tinh sắp cạn châu Á chiếm 5 (đáng kể là sông Hằng, sông Xan-uyn...), châu Âu có sông Danube, châu Phi có sông Nin, NamMỹ có sông Rio Grande .
Bất cập trong quản lý, khai thác nguồn cung.Châu Á chiếm quá nửa số dân toàn cầu nhưng "sở hữu" nguồn nước ngọt khiêm tốn hơn các nơi khác. Lượng nước ngọt bình quân đầu người không đồng đều: các nước châu Âu và Trung Á đạt 11.473m 3/năm, châu Á đạt 3.920 m 3/năm.Với bình quân 757m 3/năm, các nước MENA mỗi năm dành 30% ngân sách cho lĩnh vực nước ngọt, 5 năm tới đạt 183 tỷ USD. Chưa kể thế giới còn đau đầu với 263 con sông quốc tế chảy qua lãnh thổ 155 quốc gia. Chiếm 60% lượng nước ngọt toàn cầu, nhưng theo tổ chức "Hội châu Á", tranh chấp nguồn nước từng dẫn đến xung đột biên giới giữa Ấn Ðộ với Pakistan, giữa Bangladesh với các nước láng giềng...
Cộng đồng quốc tế thực thi nhiều biện pháp bảo vệ, khai thác hiệu quả "nguồn vàng trắng".Cuối tháng năm vừa qua, 25 nước dự hội nghị quốc tế về nguồn nước ngọt xuyên biên giới tại Băng-cốc thông qua "Kế hoạch Hành động Băng-cốc về quản lý bền vững nguồn nước ngọt xuyên quốc gia" kêu gọi các nước tăng cường hợp tác quản lý lưu vực các con sông; yêu cầu mỗi nước soạn thảo một kế hoạch quốc gia về quản lý tốt hơn các con sông quốc tế để trình hội nghị tới họp vào năm 2011.
Một giải pháp được ghi nhận có tác động tích cực là Tuần Nước quốc tế với các Cuộc gặp cấp cao về nước, Hội nghị nước, Triển lãm nước, Festival nước, hội thảo về nước. Theo mạng JCNnetwork (Nhật Bản), sáng kiến của Singapore thu hút hàng trăm nhà vạch chính sách, lãnh đạo kinh tế, chuyên gia thảo luận về những thách thức, chia sẻ công nghệ, tìm biện pháp giải quyết vấn đề nước ngọt toàn cầu. Tuần Nước quốc tế từ ngày 23 đến 27-6-2008 mang chủ đề "Giải pháp bền vững về nước cho đô thị". Tuần Nước quốc tế năm nay dưới chủ đề "Mở cửa vào MENA" dự kiến có 10 nghìn đại biểu, quan chức thương mại MENA và các đối tác từ Ðông Á, Ðông-Nam Á, Nam Thái Bình Dương, châu Âu, Bắc Mỹ tham gia. Theo ban tổ chức, qua tám diễn đàn kinh doanh, một loạt hội thảo về quản lý bền vững nguồn nước và ngăn chặn khủng hoảng nước ngọt toàn cầu, sẽ có nhiều thỏa thuận hàng triệu USD được ký kết tạo thuận lợi cho các nước ÐPT, trong đó có MENA, cải thiện bức tranh nước ngọt.








