Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 12/10/2006 00:11 (GMT+7)

Quan điểm của C.Mác về sự phát triển của hệ thống máy móc và ý nghĩa của nó đối với nền kinh tế tri thức

Theo đà phát triển của đại công nghiệp, máy móc sẽ từng bước thay thế lao động giản đơn, quá trình sản xuất từ chỗ là một quá trình lao động đơn giản sẽ trở thành một quá trình khoa học, lao động trực tiếp trở thành thứ yếu so với lao động khoa học.

Khi nghiên cứu về tư bản cố định, C.Mác đã chỉ rõ: hệ thống máy móc biểu hiện ra là một hình thức thích hợp nhất của tư bản cố định và sự phát triển của tư bản cố định lại là chỉ số của sự phát triển sức sản xuất, là thước đo mức độ phát triển của sự giàu có dựa trên phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Trước kia, kỹ năng điều khiển công cụ phụ thuộc vào sự điêu luyện của người công nhân, nhưng khi có máy móc thì máy móc thay vào chỗ công nhân, hoạt động của công nhân do sự vận động của máy móc quyết định và điều chế một cách toàn diện. Còn trong hình thái cuối cùng là hệ thống máy móc tự động, đó là hình thái hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất của hệ thống máy móc tự động "gồm nhiều cơ quan cơ khí và cơ quan trí tuệ, cho nên bản thân công nhân chỉ được xác định là những thành viên có ý thức của nó thôi". Bây giờ, toàn bộ quá trình sản xuất biểu hiện ra không phải như là một quá trình phụ thuộc vào tài nghệ trực tiếp của người công nhân, mà với tư cách là sự ứng dụng khoa học trong lĩnh vực công nghệ. Nếu xét về mặt lượng, lao động trực tiếp được quy vào một phần nhỏ hơn, thì về mặt chất nó được chuyển hoá thành một yếu tố nào đó, tuy cần thiết, nhưng là thứ yếu... đối với lao động khoa học phổ biến, đối với sự áp dụng khoa học tự nhiên vào công nghệ… và việc biến quá trình sản xuất từ chỗ là một quá trình lao động đơn giản thành quá trình khoa học bắt những lực lượng của giới tự nhiên phải phục tùng mình và bắt những lực lượng ấy phải hoạt động phục vụ những nhu cầu của con người.

Như vậy, theo đà phát triển của đại công nghiệp việc tạo ra của cải thực sự trở nên ít phụ thuộc vào thời gian lao động và số lượng lao động đã chi phí hơn là vào sức mạnh của những tác nhân được khởi động trong thời gian lao động, và bản thân những tác nhân ấy, đến lượt chúng (hiệu quả to lớn của chúng) tuyệt đối không tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng ra chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật, hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất.

Tính chất của lao động cũng thay đổi. Lao động biểu hiện ra không phải chủ yếu là lao động được nhập vào quá trình sản xuất, mà chủ yếu là một loại lao động trong đó có con người, trái lại, là người kiểm soát và điều tiết bản thân quá trình sản xuất. Thay vì làm tác nhân chủ yếu của quá trình sản xuất, người công nhân lại đứng bên cạnh quá trình ấy.

Những luận điểm trên hoàn toàn phù hợp với những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức, trong đó các nguồn lực truyền thống của sản xuất và tăng trưởng (như đất đai, lao động cơ bắp...) lùi xuống hàng thứ yếu, còn tri thức trở thành nhân tố sản xuất quan trọng hàng đầu, quyết định lợi thế so sánh của một nước, khoa học và công nghệ đóng vai trò trung tâm trong tăng trưởng kinh tế, số việc làm có hàm lượng tri thức cao ngày càng chiếm ưu thế, càng đẩy lao động giản đơn ra khỏi quá trình sản xuất.

Hệ thống máy móc tự động là sự vật hóa của tri thức, biểu hiện sự tích lũy tri thức và cũng là sự tích lũy sức sản xuất, sự chuyển hóa tri thức thành lực lượng sản xuất trực tiếp.

Việc hệ thống máy móc tự động thay thế lao động giản đơn, làm giảm lao động trực tiếp không hề có nghĩa là giảm vai trò nhân tố con người trong sức sản xuất của lao động. Bởi vì, như C.Mác đã khẳng định: "Thiên nhiên không chế tạo ra máy móc... Tất cả những cái đó đều là sản phẩm lao động của con người... Tất cả những cái đó đều là những cơ quan của bộ óc con người do bàn tay con người tạo ra, đều là sức mạnh đã vật hoá của tri thức. Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho thấy tri thức xã hội phổ biến [wissen, knowledge] đã chuyển hoá đến mức độ nào thành lực lượng sản xuất trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy. Những lực lượng sản xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình thức tri thức, mà cả như là những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp, những cơ quan trực tiếp của quá trình sống hiện thực".

Những điều nói trên hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của kinh tế tri thức hiện nay: Hệ thống máy móc phát triền cùng với sự tích luỹ những tri thức xã hội và nói chung, sự tích luỹ sức sản xuất. Mối quan hệ giữa khoa học - công nghệ - sản xuất ngày càng trở nên chặt chẽ. Tri thức, khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Tri thức được sản xuất ra không chỉ trong các cơ quan nghiên cứu, mà còn ngay cả trong môi trường sản xuất. Giáo dục và đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học và sản xuất. Ngay trong từng doanh nghiệp cũng tiến hành đào tạo thường xuyên, cũng nghiên cứu khoa học và công nghệ, nhiều khi khó phân biệt đơn vị sản xuất với phòng thí nghiệm. Trong các lĩnh vực công nghệ sinh học, công nghệ thông tin... có những dược phẩm, những vi mạch, phần mềm được sản xuất ngay trong phòng thí nghiệm. Cùng một nơi, người ta nghiên cứu rồi sản xuất đại trà.

Phát minh trở thành một nghề đặc biệt.

Trong nền kinh tế tri thức, sự sáng tạo, đổi mới thường xuyên là động lực chủ yếu thúc đẩy sự phát triển sức sản xuất. Vòng đời sản phẩm và vòng đời công nghệ được rút ngắn. Muốn thắng trong cạnh tranh, phải luôn luôn tìm được công nghệ mới.

Cái chín muồi là cái cái sắp tiêu vong. Bởi vậy sản xuất ra công nghệ mới trở thành loại hình sản xuất quan trọng nhất, tạo ra năng suất lao động cao, tốc độ tăng trưởng cao và việc làm. Cũng từ việc phân tích sự phát triển của hệ thống máy móc, C.Mác đã chỉ rõ: "Phát minh trở thành một nghề đặc biệt, và đối với nghề đó thì việc vận dụng khoa học vào nền sản xuất trực tiếp tự nó trở thành một trong những yếu tố có tính chất quyết định và kích thích".

Năng suất lao động cao, thời gian lao động cần thiết rút ngắn đến mức tối thiểu, thời gian nhàn rỗi cho xã hội nói chung và cho từng thành viên nhiều hơn, tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân. Sự phát triển toàn điện của mỗi cá nhân lại tạo ra khả năng rộng rãi để phát triển một cách hoàn toàn đầy đủ lực lượng sản xuất.

C.Mác dự đoán rằng, việc ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất sẽ nâng cao năng suất lao động xã hội và cơ sở chủ yếu của sản xuất và của của cải không phải là lao động trực tiếp do chính con người thực hiện và không phải là thời gian trong đó anh ta lao động, mà là sự chiếm hữu sức sản xuất phổ biên của chính con người, là nhận thức của con người về giới tự nhiên và sự thống trị giới tự nhiên do sự tồn tại của con người với tư cách là một cơ thể mang tính xã hội.

Trong xã hội tư bản chủ nghĩa (và cả trong những giai đoạn trước đó), việc tăng năng suất lao động xã hội, giảm thời gian lao động cần thiết, là nhằm tăng thời gian lao động thặng dư để làm giàu cho một số ít người. Còn trong tương lai, một khi lao động dưới hình thái trực tiếp của nó không còn là nguồn của cải vĩ đại nữa thì thời gian lao động không còn là thước đo giá trị sử đụng nữa. Lao động thặng dư của quần chúng công nhân không còn là điều kiện để phát triển của cải phổ biến, cũng giống như sự không lao động của một số ít người không còn là điều kiện cho sự phát triển những sức mạnh phổ biến của đầu óc con người nữa. Do đó, nền sản xuất dựa trên giá trị trao đổi bị sụp đổ. Điều đó có nghĩa là khi ấy không còn sản xuất hàng hoá và cả sản xuất tư bản chủ nghĩa nữa. Khi ấy, sẽ diễn ra sự phát triển tự do của các cá nhân, do vậy điều diễn ra không phải là sự rút ngắn thời gian lao động cần thiết nhằm giả định lao động thặng dư, mà nói chung là việc giảm thời gian cần thiết của xã hội xuống mức tối thiểu, tương ứng với điều đó trong những điều kiện ấy là sự phát triển nghệ thuật, khoa học… và của các cá nhân nhờ thời gian đã được giải toả cho mọi người và nhờ những phương tiện đã được tạo ra để thực hiện điều đó.

Như vậy, một số lượng lớn thời gian nhàn rỗi đã được tạo ra cho xã hội nói chung và cho từng thành viên của xã hội sẽ được dùng vào việc phát triển chính bản thân họ. Khi ấy, sự phát triển của lực lượng sản xuất không thể bị trói buộc thêm nữa vào sự chiếm hữu lao động thặng dư của người khác, và quần chúng công nhân tự mình phải chiếm hữu lấy lao động thặng dư của mình. Khi nào công nhân bắt đầu thực hiện việc đó và do đó khi mà thời gian nhàn rỗi không còn tồn tại dưới hình thái đối kháng nữa thì khi ấy một mặt, thước đo thời gian lao động cần thiết sẽ là những nhu cầu của cá nhân xã hội, mặt khác, sự phát triển của sức sản xuất xã hội sẽ diễn ra nhanh chóng đến mức mặc dù sản xuất sẽ nhằm vào sự giàu có của tất cả mọi người, nhưng thời gian nhàn rỗi củ a mọ i người sẽ tăng lên.

Tóm lại, chính sự phát triển của tư bản cố định trong chủ nghĩa tư bản lại tạo tiền đề để phủ định chủ nghĩa tư bản, để chuyển lên một xã hội mới, trong đó sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân sẽ thúc đẩy sự phát triển của cả xã hội, thúc đẩy sản xuất nhằm đem lại sự giàu có cho tất cả mọi người, những thời gian nhàn rỗi để nghiên cứu khoa học, nghệ thuật, giải trí... của tất cả mọi người lại tăng lên. Có thể vận dụng những dự đoán trên của C. Mác vào phân tích xu hướng vận động của nền kinh tế tri thức, và qua đó, có thể thấy được rằng sự phát triển của kinh tế tri thức hoàn toàn phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa, với tính chất của thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhận định: “Con đường CNH - HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, và có những bước tuần tự vừa có bước nhảy vọt”. Để có bước nhảy vọt phải “nâng cao hàm lượng tri thức trong các nhân tố phát triển kinh tế xã hội, từng bước phát triển kinh tế tri thức ở nước ta".

Những quan điểm của C.Mác về ứng dụng khoa học, công nghệ vào quá trình sản xuất nói trên đã chỉ cho chúng ta thấy rằng muốn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn ở nước ta, chúng ta phải:

Một là, tăng tỷ trọng lao động trí óc trong cơ cấu lao động xã hội bằng cách tăng đầu tư cho giáo dục đào tạo, cho nghiên cứu khoa học và công nghệ. Nếu chỉ hô hào giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu mà không có giải pháp cụ thể để tăng đầu tư cho giáo dục, đào tạo, cho R&D, không cải cách giáo dục, đào tạo thì "quốc sách" sẽ không trở thành hiện thực được. Không tăng được số lượng công nhân tri thức (knowledge workers) thì sẽ rơi vào tình huống thừa lao động giản đơn, thiếu lao động lành nghề, số người dôi dư do công nghiệp hoá, hiện đại hoá tăng lên thành một sức ép xã hội gay gắt, trong khi có quá nhiều việc làm không tìm được người thích hợp. Ngay một nước phát triển rất coi trọng giáo dục, đào tạo như Ôxtrâylia mà cũng có khoảng 30.000 chỗ làm việc chưa tìm được công nhân thích hợp và có nhiều cảnh báo rằng tình hình sẽ còn xấu đi.

Hai là, đổi mới giáo dục và đào tạo. Vì sản xuất công nghệ trở thành loại hình quan trọng hàng đầu, phát minh trở thành một nghề đặc biệt, nên giáo dục, đào tạo phải khuyến khích tư duy sáng tạo của người học chứ không phải là nhồi nhét kiến thức, không nên đẩy người học vào tình trạng "chết đuối trong thông tin nhưng lại chết đói vì tri thức".

Do tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ mà giáo đục phải cập nhật liên tục trong suốt cuộc đời người lao động. Ngày nay, tri thức cứ 7 năm lại tăng gấp 2 lần, và trong lĩnh vực kỹ thuật thì một nửa những điều mà sinh viên học được trong năm đầu tiên ở Đại học sẽ trở nên lạc hậu khi họ tốt nghiệp. Để Công ty có khả năng cạnh tranh và người lao động có thể tiếp tục làm việc thì mỗi người đều phải học tập thường xuyên. Các hãng phải thúc đẩy việc phát triển lực lượng lao động của mình với chi phí tối thiểu bằng một chiến lược gọi là "vừa đúng lúc". Điều đó có nghĩa là phải đạt được các kỹ năng hoặc tri thức đúng lúc, đúng địa điểm, thay vì học trước lúc cần thiết và ở địa điểm khác. Học ngay trong quá trình sản xuất. Ranh giới giữa dạy nghề và đào tạo hàn lâm đang có xu hướng xích lại thông qua cuộc cải cách giáo dục: tăng cường lý thuyết cho các lớp học nghề, tạo điều kiện cho những người đã tốt nghiệp các lớp học nghề theo học đại học, và tăng thời gian thực tập cho các học sinh, tăng giáo dục thông qua việc làm. Hoặc kết hợp giáo dục với sản xuất bằng cách đặt doanh nghiệp ở các trường học, như ở Hoa Kỳ, Anh, Đan Mạch, Singapore.

Ba là, xã hội hoá các công tác nghiên cứu khoa học và công nghệ, xã hội hoá giáo dục và đào tạo. Không những Nhà nước phải tăng chi cho R & D, cho giáo dục đào tạo mà từng doanh nghiệp cũng phải chi cho lĩnh vực này. Thí dụ, ở Phần Lan, các Công ty không chờ đợi sự trợ cấp của Chính phủ. Trong khi 300 Công ty lớn nhất thế giới chi trung bình 4% doanh thu cho R & D, các Công ty Phần Lan đã đầu tư cho R & D gấp đôi mức trung bình của OECD, đạt 10,4%. Riêng Công ty NOKIA chi cho R & D nhiều hơn toàn bộ chỉ tiêu này của Niu Dilân.

Chỉ có tăng đầu tư cho giáo dục, đào tạo, cho nghiên cứu khoa học, công nghệ, chỉ có xã hội hoá việc nghiên cứu và giáo dục đào tạo thì mới có thể thực hiện được chủ trương của Đảng: "Đẩy mạnh đổi mới công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực hoạt động khác, thu hẹp khoảng cách về trình độ công nghệ so với các nước tiên tiến trong khu vực. Đi thẳng vào công nghệ hiện đại đối với các ngành mũi nhọn, đồng thời lựa chọn các công nghệ thích hợp, không gây ô nhiễm và khai thác được lợi thế về lao động. Chú trọng nhập khẩu công nghệ mới, hiện đại, thích nghi công nghệ nhập khẩu, cải tiến từng bộ phận, tiến tới tạo ra những công nghệ đặc thù Việt Nam .

Tóm lại, nhân tố quan trọng hàng đầu để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá rút ngắn là đào tạo được một đội ngũ công nhân tri thức hùng hậu. Trong điều kiện nước ta rất nghèo, ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, phải kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí, phải giảm bớt đầu tư vào một số lĩnh vực kém thiết yếu (như xây dựng các trụ sở làm việc quá nguy nga, cán bộ đi xe ôtô quá hào nhoáng...) để tăng đầu tư cho nghiên cứu khoa học, công nghệ và giáo dục, đào tạo, phải thi hành kỷ luật nghiêm những kẻ không chấp hành những quy định tiết kiệm mà Nhà nước đã ban hành.

Nguồn: Tạp chí Triết học, chungta.com,30/09/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.