Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 06/09/2006 23:45 (GMT+7)

Phương pháp luận Atlas công nghệ và ứng dụng cho đánh giá trình độ công nghệ

Phương pháp luận Atlas công nghệ

Phương pháp luận Atlas công nghệ là kết quả của Dự án Atlas công nghệ - Technology Atlas Project được khởi xướng trên cơ sở của tiên đề cho rằng: Công nghệ là biến số chiến lược quyết định sự phát triển, tăng tốc KT-XH trong bối cảnh toàn cầu hoá nền kinh tế, môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng tăng. Đây là dự án do Trung tâm Chuyển giao Công nghệ châu Á - Thái Bình Dương (APCTT), thuộc ESCAP nghiên cứu và đã ban hành bộ tài liệu “Nguyên lý phát triển dựa trên cơ sở công nghệ” áp dụng cho các quốc gia trong khu vực từ năm 1986-1988.

Mục tiêu chính của “Technology Atlas Project” là đưa ra một công cụ hỗ trợ ở dạng một bộ tài liệu phương pháp luận để hợp nhất các công việc, xem xét vấn đề công nghệ trong quá trình lập kế hoạch phát triển. Dự án trình bày các biện pháp và cung cấp phương tiện nhằm giới thiệu một cách rộng rãi các cách tiếp cận phân tích để đề ra và hoàn thiện các chính sách, kế hoạch phát triển công nghệ ở mỗi đơn vị kinh tế, ngành; mỗi quốc gia.

Với tựa đề chung là “Nguyên lý phát triển dựa trên công nghệ”, nội dung của phương pháp luận Atlas công nghệ bao gồm việc phân tích, đánh giá chỉ số công nghệ (hàm lượng công nghệ, môi trường công nghệ, trình độ công nghệ, năng lực công nghệ và nhu cầu công nghệ) được xem xét ở ba quy mô khác nhau.

l Ở cấp doanh nghiệp: Các chỉ số công nghệ được xem xét bao gồm các thành phần công nghệ (thành phần kỹ thuật - Technoware (T), thành phần con người - Humanware (H), thành phần thông tin - Infoware (I), thành phần tổ chức - Orgaware (O), kết quả đóng góp trực tiếp của bốn thành phần này trong xác định hàm lượng công nghệ gia tăng. Đây là cơ sở để đánh giá hàm lượng công nghệ, năng lực công nghệ và chiến lược công nghệ.

l Ở cấp độ của một ngành công nghiệp: Thông thường ở quy mô của một ngành công nghiệp, các đặc trưng công nghệ được đánh giá là các nguồn lực công nghệ và cơ sở hạ tầng công nghệ.

l Ở quy mô một quốc gia: Với quy mô là một quốc gia, những chỉ số công nghệ được xem xét là môi trường công nghệ và nhu cầu công nghệ. Trên thực tế, việc nghiên cứu đánh giá môi trường công nghệ cũng có thể được xem xét ở quy mô địa phương, vì ngay với quy mô nhỏ hơn mức quốc gia vẫn tồn tại những yếu tố môi trường có tính đặc thù mà nếu chỉ khai thác môi trường công nghệ ở cấp quốc gia thì rất khó được đề cập đến. Việc xem xét môi trường công nghệ ở quy mô nào phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu của từng đề tài.

Để hợp nhất việc xem xét công nghệ với quá trình kế hoạch hoá phát triển KT-XH có ý nghĩa, thì điều kiện cơ bản là các nhà nghiên cứu về kinh tế và công nghệ phải hỗ trợ lẫn nhau khi tiến hành các phân tích. Nếu sử dụng 4 hình thức biểu hiện của công nghệ theo cách phân chia theo phương pháp Atlas (T, H, I, O) ở trên làm cơ sở để điều tra, thì có thể đạt được sự bổ sung cho nhau giữa kế hoạch hoá kinh tế thông thường và kế hoạch hoá dựa trên công nghệ ở cấp công ty, phân ngành, ngành, tỉnh, quốc gia... tuỳ theo mức độ dự án thực hiện.

Với những ưu điểm lớn trong việc đánh giá, quản lý và hoạch định chiến lược công nghệ, phương pháp luận Atlas công nghệ đã được sử dụng làm cơ sở cho nhiều dự án về công nghệ, đặc biệt là các dự án ở các nước đang phát triển.

Dự án điều tra, đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực công nghệ quy mô 500 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là đề tài nghiên cứu về công nghệ ở quy mô của một tỉnh. Tuy nhiên, việc điều tra, đánh giá các yếu tố như hàm lượng công nghệ được tiến hành ở quy mô doanh nghiệp và tổng quan cho một ngành, trên cơ sở đó tổng hợp cho toàn tỉnh.

Đánh giá hàm lượng công nghệ

Trong Atlas công nghệ, phương pháp phân tích hàm lượng công nghệ tập trung vào khía cạnh công nghệ - cách tiếp cận định lượng để đo mức độ đóng góp của mỗi thành phần trong 4 thành phần công nghệ tại một phương tiện chuyển đổi.

T - Phần Kỹ thuật có thể coi như hình thức biểu hiện về mặt vật thể của công nghệ, bao gồm tất cả các phương tiện vật chất cần thiết cho hoạt động chuyển đổi như: Dụng cụ, thiết bị, máy móc, các kết cấu và xưởng máy…

H - Phần Con người là hình thức biểu hiện về mặt con người của công nghệ, bao gồm các năng lực cần thiết mà con người đã tích luỹ được cho các hoạt động chuyển đổi.

I - Phần Thông tin là hình thức biểu hiện về mặt tư liệu của công nghệ, bao gồm toàn bộ các dữ kiện và các số liệu cần cho các hoạt động chuyển đổi, như: Các bản thiết kế, tính toán, đặc tính, quan sát, phương trình, biểu đồ, lý thuyết…

O - Phần Tổ chức là hình thức biểu hiện về mặt thể chế của công nghệ, bao gồm các cơ cấu tổ chức cần thiết cho hoạt động chuyển đổi, như: Sự phân chia nhóm, phân trách nhiệm, hệ thống các tổ chức, các mạng lưới quản lý…

Phân tích hàm lượng công nghệ có thể biết được điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp liên quan đến công nghệ và các động lực chuyển đổi ở cấp công ty, cho phép xác định các ưu tiên trong phân bổ nguồn lực nhằm nâng cấp các thành phần công nghệ. Việc này không bị ảnh hưởng bởi sự không hoàn chỉnh của thị trường công nghệ và có thể bổ sung cho việc phân tích tài chính thông thường. Hơn nữa, việc phân tích hàm lượng công nghệ có thể làm tăng khả năng sàng lọc kho công nghệ quốc gia và nâng cao năng lực quốc gia về mặt đánh giá công nghệ khi hợp tác với nước ngoài.

Để đo lường được hàm lượng công nghệ của một công ty, người ta dùng phương pháp trắc lượng công nghệ để đo lường mức độ đóng góp của 4 thành phần công nghệ trong một quá trình chuyển đổi xác định. Hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) cho quá trình chuyển đổi có thể được tính theo công thức sau:

TCC = Tbt. Hbh. Ibi. Obo (1)

Trong đó T, H, I, O là mức độ đóng góp riêng tương ứng của từng thành phần công nghệ; bt, bh, bi, bo là cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ tương ứng. Để tính được TCC người ta tiến hành theo các bước sau:

Bước 1: Đánh giá cấp bậc tinh xảo của 4 thành phần công nghệ. Thông qua thu thập thông tin từ doanh nghiệp và thủ tục cho điểm bởi các chuyên gia, tiến hành xác định mức độ tinh xảo của các thành phần công nghệ.

Bước 2: Đánh giá trình độ hiện đại. Khi có được giới hạn cấp bậc tinh xảo trên, dưới của 4 thành phần công nghệ thì vị trí của mỗi thành phần công nghệ trong khoảng giới hạn này phụ thuộc vào trình độ hiện đại của nó. Trình độ hiện đại của các thành phần công nghệ được đánh giá thông qua các tiêu chí như: Xuất xứ công nghệ, năm sản xuất, lắp đặt, suất tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu, trình độ học vấn, kinh nghiệm công tác, hạ tầng thông tin, mục đích sử dụng máy tính...

Bước 3: Xác định những đóng góp của thành phần công nghệ trên cơ sở các giới hạn của cấp bậc tinh xảo và điểm số trình độ hiện đại đã được xác định. Đây là bước tính toán điểm số, tổng hợp, xác định hệ số từ tập nhiều tiêu chí khác nhau.

Bước 4: Đánh giá cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ. Ở đây đề xuất phương pháp đánh giá bằng cách sử dụng cách tiếp cận ma trận so sánh từng đôi một. Việc xác định các hệ số b sẽ được thực hiện cho từng ngành với sự trợ giúp của phần mềm Expert Choice cũng như sự tham gia đóng góp của các chuyên gia đầu ngành.

Bước 5: Tính toán hệ số TCC. Sử dụng các giá trị T, H, I, O và các cường độ đóng góp của các thành phần công nghệ (bt,h,i,o) có thể tính được TCC bằng công thức (1) ở trên. TCC của công ty cho biết sự đóng góp của công nghệ của toàn bộ hoạt động chuyển đổi đầu vào, đầu ra của công ty.

Một số kết quả nghiên cứu tại Đồng Nai

Cuối năm 2003, Bộ KH&CN giao cho Trung tâm CRC triển khai thực hiện đề tài: “Điều tra đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở dữ liệu về năng lực công nghệ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm: Đưa ra báo cáo tổng hợp về thực trạng trình độ công nghệ của 500 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, dựa trên dữ liệu điều tra cụ thể và phân tích có hệ thống; thiết lập cơ sở dữ liệu và xây dựng trang Web về trình độ công nghệ của các doanh nghiệp trên địa bàn phục vụ cho công tác quản lý, nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển KT-XH của tỉnh; tạo nền tảng để tiến tới tiếp tục phân tích, đề xuất phương hướng đầu tư, phát triển công nghệ tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 2005-2010; từng bước hoàn thiện việc xây dựng phương pháp tổng quát và hiệu quả để Bộ KH&CN có thể ứng dụng vào công tác quản lý, phân tích đánh giá hiện trạng và xây dựng năng lực công nghệ của các tỉnh, thành trong toàn quốc.

Đề tài đã hoàn thành đúng tiến độ và đạt được các mục tiêu đề ra, có những đóng góp rất cụ thể về mặt khoa học cũng như ứng dụng thực tiễn:

  • Đã vận dụng thành công phương pháp Atlas công nghệ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam . Đề tài không những đã tính toán được một cách định lượng các chỉ số T, H, I, O và TCC của từng doanh nghiệp được khảo sát mà còn tính toán được các chỉ số trung bình của các nhóm ngành và trung bình chung của toàn tỉnh. Các chỉ số được trình bày dưới dạng bảng số liệu hoặc dưới dạng các biểu đồ, thuận tiện cho việc so sánh, đánh giá.
  • Bước đầu xây dựng được hệ thống thang điểm cho phép lượng hoá các thành phần công nghệ.
  • Xây dựng được quy trình điều tra thu thập thông tin một cách khoa học và sát điều kiện thực tế, tiến hành điều tra thành công, thu thập được thông tin đầy đủ của 528/588 doanh nghiệp được khảo sát.
  • Xây dựng được cơ sở dữ liệu dạng trang Web thuận tiện cho việc cập nhật, lưu trữ, xử lý và truy cập thông tin phục vụ cho công tác tra cứu, tìm kiếm thông tin và quản lý của các đối tượng khác nhau. Với cơ sở dữ liệu bao gồm 120 thông tin về doanh nghiệp được lưu trữ và có thể truy cập một cách thuận tiện, giúp cho các nhà quản lý, các cơ quan hoạch định chính sách nắm được khá tường tận về các đối tượng mình cần quản lý để từ đó có được những giải pháp khuyến khích, hỗ trợ và định hướng phát triển các doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp, thông qua truy cập cơ sở dữ liệu có thể tự mình đánh giá hiện trạng trình độ công nghệ, có thể so sánh doanh nghiệp mình với trung bình của ngành, của tỉnh, biết trình độ của mình đang ở đâu để từ đó có các định hướng đổi mới.
  • Bước đầu đề xuất một số công cụ cho phép sử dụng các kết quả đánh giá về trình độ công nghệ vào việc hoạch định các chiến lược phát triển công nghệ và chiến lược phát triển KT-XH của các doanh nghiệp, ngành cũng như các địa phương.
  • Đưa ra được ý tưởng điều tra nhu cầu đổi mới và chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp được khảo sát. Qua đó thử nghiệm xây dựng “chợ công nghệ” từ trang Web cơ sở dữ liệu.
  • Trong quá trình thực hiện, đề tài đã huy động được nhiều nhà khoa học và cán bộ của các ban/ngành và Sở KH&CN Đồng Nai tham gia. Các khoá tập huấn chuyển giao phương pháp đánh giá cũng như quản lý và cập nhật cơ sở dữ liệu cho Sở KH&CN Đồng Nai là cơ sở cho sự phát triển bền vững và phát huy kết quả nghiên cứu sau khi kết thúc đề tài.

Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học, số 08/2006

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.
Lâm Đồng: Gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026
Chiều ngày 15/4, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026. Dự và chủ trì Hội nghị có các đồng chí: Y Thanh Hà Niê Kđăm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành và 150 đại biểu trí thức tiêu biểu của tỉnh.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: Hội Chăn nuôi Việt Nam góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN vào phát triển đất nước
Phát biểu chúc mừng Hội Chăn nuôi Việt Nam nhân Kỷ niệm 35 năm thành lập (19/4/1991 - 19/4/2026), Chủ tịch Phan Xuân Dũng khẳng định, với sự năng động và chuyên nghiệp, Hội Chăn nuôi Việt Nam đã góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN trong sự nghiệp phát triển đất nước. Chủ tịch Phan Xuân Dũng đề nghị các thành viên của Hội giữ lửa đam mê, lấy khoa học công nghệ làm động lực phát triển.
Toàn văn Tuyên bố chung nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Toàn văn Tuyên bố chung giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc tiếp tục làm sâu sắc quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới.