Phương hướng và các giải pháp chủ yếu đảm bảo cho Tổng công ty Khoáng sản – TKV phát triển bền vững
1. Một vài nét về Tổng công ty Khoáng sản - TKV
Tổng công ty Khoáng sản - TKV (trước đây là Tổng Công ty Khoáng sản Việt Nam) là Tổng Công ty Nhà nước được thành lập 1995 trên cơ sở hợp nhất hai Tổng Công ty là Tổng công ty Khoáng sản Quý hiếm Việt Nam và Tổng công ty Phát triển Khoáng sản Việt Nam. Từ tháng 3 - 2003 Tổng công ty Đá quý và Vàng Việt Namđược sáp nhập vào Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam .
Ngày 26 - 12 - 2005, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 345/2005/QĐ-TTg về việc thành lập Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, theo đó Tổng công ty Khoáng sản Việt Nam thành Tổng công ty Khoáng sản - TKV, là đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Tổng công ty hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con. Từ tháng 3 - 2008, Tổng công ty được xếp loại là doanh nghiệp hạng đặc biệt.
Chức năng chính của Tổng Công ty là hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến (tuyển khoáng, luyện kim) và tiêu thụ (kể cả xuất khẩu) các khoáng sản kim loại màu (đồng, kẽm, chì, antimon, vonfram, titan…), kim loại đen (crômít, quặng sắt, mangan…), kim loại quý hiếm (đá quý, vàng, bạc, đất hiếm…), phi kim và vật liệu xây dựng. Ngoài ra Tổng Công ty còn kinh doanh nhiều lĩnh vực khác như chế tạo sửa chữa thiết bị phục vụ trong ngành, xây dựng công trình, kinh doanh bất động sản, nhà hàng khách sạn, vận chuyển hành khách, hàng hoá…
Trong khai thác và chế biến khoáng sản kim loại, Tổng Công ty đã đầu tư nhiều công trình lớn để chế biến sâu nhiều kim loại và đã đưa vào sản xuất như: Tổ hợp đồng Sin Quyền, Lào Cai với mức đầu tư gần 1500 tỷ đồng với công suất thiết kế 10.000 tấn đồng/ năm kim loại 99,95% Cu, 340 kg vàng, 40.000 tấn axit sunfuric và các sản phẩm đi kèm khác. Toàn bộ tổ hợp đã đi vào hoạt động từ 9 - 2008, hiện nay đã sản xuất trên 1.000 tấn đồng đảm bảo chất lượng. Nhà máy kẽm điện phân Thái Nguyên với tổng mức đầu trên 200 tỷ đồng đã hoạt động chính thức từ năm 2006, đến nay đã đạt công suất thiết kế với sản lượng 10.000 tấn kẽm thỏi. Hai Công ty trong Tổng công đang sản xuất thiếc thỏi chất lượng cao (99,95% Sn) bằng điện phân, hàng năm có thể sản xuất trên 1.500 tấn thiếc thỏi.
Nhiều công trình lớn khác đã và đang được xúc tiến đầu tư để sớm đi vào sản xuất như: Tổ hợp gang thép Cao Bằng; Tổ hợp gang thép Lào Cai; Nhà máy sản xuất Pigment từ quặng gốc titan Thái Nguyên; khai thác và chế biến vàng tại Apey, Quảng Trị; vàng Minh Lương, Văn Bàn, Lào Cai…
Nhờ đẩy mạnh công tác đầu tư do đó đã đưa được nhiều công trình vào sản xuất kịp thời nên các năm gần đây hoạt động sản xuất, kinh doanh của Tổng công ty tăng trưởng mạnh. Doanh thu của năm 2006 là 1.600 tỷ đồng, năm 2007 là 2.250 tỷ đồng, dự kiến năm 2008 trên 2.600 tỷ dồng, các chỉ tiêu khác như: lợi nhuận, nộp ngân sách, thu nhập… đều tăng mạnh. Tổng Công ty ngày càng đóng vai trò là một Tổng Công ty Nhà nước hạng đặc biệt chuyên sản xuất và chế biến sâu nhiều loại khoáng sản.
2. Một số định hướng phát triển của Tổng Công ty Khoáng sản - TKV
2.1 Công tác thăm dò và phát triển ngành tài nguyên
Để đảm bảo sự phát triển bền vững của Tổng Công ty, việc quan trọng nhất là phải tăng cường công tác quản lý và phát triển nguồn tài nguyên khoáng sản. Hiện nay, bằng nguồn vốn thăm dò khoáng sản như: nguồn vốn tập trung của Tập đoàn TKV, của Tổng Công ty, của các đơn vị thành viên và từ các nguồn khác, Tổng Công ty đang đầu tư thăm dò nhiều loại khoáng sản như: quặng đồng thuộc phân vùng 5 Vi Kẽm, Bát Xát (Lào Cai); Apey, Avao (Quảng Trị), Trà Năng (Lâm Đồng); quặng thiếc gốc Sơn Kim (Hà Tĩnh); Núi Pháo (Thái Nguyên); titan Na Hoe (Thái Nguyên); kẽm chì Cúc Đường (Thái Nguyên); một số điểm mỏ có triển vọng về kẽm chì ở Bắc Cạn; quặng vonfram gốc Hội Kế, Thiện Kế (Tuyên Quang); quặng đất hiếm Đông Pao (Lai Châu)…
Ngoài việc tổ chức thăm dò các mỏ mới, đối với những khu mỏ đang được cấp quản lý, Tổng Công ty đã chỉ đạo các đơn vị thăm dò kiểm tra nâng cấp và bổ sung trữ lượng tài nguyên, chuyển đổi cấp trữ lượng theo quy định mới. Năm 2007 chi phí đầu tư cho thăm dò trên 20 tỷ đồng, năm 2008 khoảng 42 tỷ đồng và dự kiến năm 2009 trên 80 tỷ đồng, năm 2010 dự kiến trên 100 tỷ đồng.
2.2 Công tác khai thác mỏ
Các năm vừa qua, do đặc điểm tài nguyên khoáng sản kim loại màu có trữ lượng lớn, phân tán và tập trung chủ yếu vào các vùng núi xa xôi, nên việc đầu tư công nghệ và thiết bị khai thác và chế biến khoáng sản một số đơn vị có quy mô nhỏ chưa đồng bộ và còn lạc hậu dẫn đến tổn thất tài nguyên.
Với chủ trương tăng cường cơ giới hoá, hiện đại hoá trong khai thác mỏ, Tổng Công ty đã và đang đầu tư các thiết bị khai thác lộ thiên có công suất lớn (máy xúc với dung tích gầu 4 - 5m3, máy khoan đường kính từ 150 mm - 250 mm, ô tô vận tải trên 27 tấn, máy gạt công suất trên 250 HP…) tại các mỏ có trữ lượng khoáng sản lớn như mỏ đồng Sin Quyền (Lào Cai); mỏ sắt Nà Lũng (Cao Bằng).
Đối với các mỏ lộ thiên có quy mô vừa và nhỏ tiến hành đầu tư các gam thiết bị khai thác phù hợp. Tại một số mỏ như: mỏ kẽm chì Bản Thi (Bắc Cạn) đang đầu tư xây dựng đường goòng cáp treo để vận chuyển quặng từ mỏ về nhà máy tuyển.
Đối với các mỏ khai thác hầm lò quy mô nhỏ, tuỳ theo từng loại khoáng sản để tính toán, thiết kế lựa chọn các phương pháp khai thác, thiết bị khai thác phù hợp nhằm hạn chế lao động thủ công, tận thu triệt để tài nguyên, đảm bảo an toàn và giảm nặng nhọc, độc hại cho người lao động.
Đối với các mỏ hầm lò có quy mô lớn như mỏ sắt Nà Rụa, Cao Bằng; mỏ đồng Sin Quyền (phân vùng 5) cần nghiên cứu đầu tư các thiết bị khai thác tiên tiến để đáp ứng nguồn nguyên liệu cho khâu chế biến quặng.
2.3 Công tác tuyển khoáng
Tiếp tục nghiên cứu, xem xét, cải tiến và hoàn chỉnh các dây chuyền công nghệ tuyển đã đầu tư để đạt và vượt công suất thiết kế, nâng cao các chỉ tiêu công nghệ như: tỷ lệ thu hồi, giảm hàm lượng quặng nguyên khai vào tuyển để tận thu triệt để tài nguyên.
Đối với quặng đồng
- Tăng cường công tác quản lý để đưa công suất nhà máy tuyển nổi Sin Quyền, Lào Cai lên 1.300.000 tấn quặng nguyên khai/ năm (theo thiết kế 1.100.000 tấn/ năm) với hàm lượng quặng nguyên khai và tuyển 0,8 – 0,85% Cu (theo thiết kế 1,07% Cu) đảm bảo chất lượng tinh quặng và hệ số thực thu (trên 90);
- Sau khi có kết quả thăm dò quặng đồng ở phân vùng 5 Sin Quyền sẽ đầu tư thêm một nhà máy tuyển nổi có công suất 1.100.000 tấn quặng nguyên khai/ năm bằng các thiết bị và công nghệ tiên tiến với mực tự động hoá cao hơn nhà máy hiện có;
- Đầu tư nhà máy tuyển đồng có công suất 2.200.000 tấn quặng nguyên khai/ năm tại mỏ đồng Tả Phời, CamĐường, Lào Cai (Tổng Công ty tham gia cổ phần);
- Nghiên cứu công nghệ tuyển quặng oxit đồng (là loại quặng thứ sinh tại các mỏ quặng sunfua đồng) để tận thu triệt để nguồn tài nguyên;
- Đầu tư các thiết bị tuyển tiên tiến như máy tuyển Knelson để thu hồi triệt để các khoáng vật nặng, cấp hạt mịn trong quá trình tuyển quặng đồng, quặng thiếc để tận thu tài nguyên.
Đối với quặng kẽm chì
Đầu tư mở rộng nâng công suất lên gấp đôi đối với các nhà máy tuyển nổi hiện có như: nhà máy tuyển nổi kẽm chì Bản Thi; nhà máy tuyển nổi chì Làng Hích để đảm bảo ổn định nguồn tinh quặng sunfua kẽm chì cho các nhà máy luyện kim. Đầu tư xây dựng thêm một số nhà máy tuyển nổi kẽm chì mới tại Thái Nguyên, Bắc Cạn và Tuyên Quang. Các nhà máy phải đầu tư các thiết bị tiên tiến hơn để có thể tuyển quặng nghèo nhưng vẫn đảm bảo chỉ tiêu công nghệ cao. Không dùng các thuốc tuyển nổi độc hại như: xianua trong quá trình tuyển nổi.
Đối với quặng thiếc
Vẫn tiếp tục duy trì các hệ thống tuyển quặng sa khoáng tại các vùng mỏ thiếc sa khoáng như Tĩnh Túc (Cao Bằng); Quỳ Hợp (Nghệ An); Sơn Dương (Tuyên Quang) nhưng phải thay thế các thiết bị lạc hậu bằng những thiết bị tiên tiến hơn để có thể nâng cao các chỉ tiêu công nghệ và tận thu được tài nguyên (nhập khẩu thiết bị mới). Lựa chọn các gam thiết bị tuyển quặng thiếc gốc hợp lý, tiến tới hình thành các mô – đun thiết bị tuyển quặng thiếc.
Đối với quặng vàng
Chuẩn bị đầu tư các nhà máy tuyển nổi quặng vàng tại các mỏ vàng đã thăm dò và xác định được trữ lượng đáng tin cậy như mỏ vàng Apey (Quảng Trị); Minh Lương (Lào Cai); Trà Năng (Lâm Đồng). Dự kiến đế năm 2010 toàn Tổng Công ty sẽ sản xuất được trên 700 kg vàng. Để hạn chế dùng các hoá chất độc hại tại các mỏ vàng trong quá trình chế biến, Tổng Công ty chủ trương chỉ tuyển tinh quặng vàng đến hàm lượng hợp lý tại mỏ. Tinh quặng vàng sẽ được đưa về nhà máy luyện để chế biến sâu bằng công nghệ hoả luyện và thuỷ luyện.
2.4 Công tác luyện kim
Luyện đồng
- Nhanh chóng đưa nhà máy luyện đồng Tằng Loỏng vào ổn định sản xuất, năm 2009 Nhà máy phải đạt công suất thiết kế 10.000 tấn đồng/ năm và tận thu triệt để các sản phẩm đi kèm;
- Từ năm 2010 nghiên cứu đầu tư mở rộng nâng công suất lên 20.000 tấn đồng/ năm (nhà máy đã có mặt bằng để đầu tư nâng công suất). Nguồn nguyên liệu tinh quặng từ mỏ đồng Sin Quyền (Lào Cai) và thu gom từ các nguồn khác;
- Sau khi đánh giá chính xác trữ lượng và chất lượng quặng đồng tại mỏ Tả Phời, Cam Đường, Tập đoàn TKV sẽ đầu tư Tổ hợp đồng Tả Phời công suất 20.000 tấn đồng/ năm. Như vậy dự kiến đến 2015 tại Lào Cai có thể sản xuất 40.000 tấn đồng/ năm.
Luyện kẽm - chì
- Công ty TNHHNN MTV Kim loại màu Thái Nguyên đang chuẩn bị đầu tư mở rộng Nhà máy luyện kẽm Sông Công (Thái Nguyên) lên 15.000 tấn/ năm (hiện tại nhà máy đã sản xuất đạt công suất thiết kế 10.000 tấn/ năm). Để có đủ nguồn nguyên liệu cho nhà máy luyện, ngoài việc nâng công suất các nhà máy tuyển quặng sunfua, Công ty tiếp tục đầu tư cải tạo các nhà máy mới để có thể sản xuất trên 15.000 tấn bột kẽm 60% Sn;
- Tại Bắc Cạn, Công ty cổ phần Kim loại màu Bắc Cạn đang chuẩn bị đầu tư sản xuất chì kim loại công suất 20.000 tấn/ năm. Nguồn nguyên liệu quặng chì từ các mỏ kẽm chì Bắc Cạn, từ Thái nguyên và các nguồn thu mua khác;
- Nếu được tỉnh Tuyên Quang chấp thuận; Công ty Cổ phần kim loại màu Tuyên Quang sẽ nghiên cứu đầu tư một nhà máy luyện kẽm công suất 15.000 tấn/ năm tại Khu công nghiệp Long Bình An (Tuyên Quang). Nguồn nguyên liệu từ các mỏ kẽm - chì Tuyên Quang;
Luyện thiếc
Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ để nâng cao hiệu quả luyện thiếc ở các nhà máy luyện thiếc hiện có. Từ năm 2010 có thể đầu tư thêm một nhà máy luyện thiếc để luyện thiếc từ mỏ thiếc Sơn Kim (Hà Tĩnh).
Đầu tư nâng công suất các xưởng điện phân thiếc ở các Công ty trong Tổng Công ty để có thể sản xuất được 3.000 tấn thiếc thỏi/ năm chất lượng cao đạt 99,95% Sn.
Luyện gang thép
- Đối với hai lò cao nhỏ của Công ty Cổ phần Khoáng sản và Luyện kim Cao Bằng vẫn tiếp tục duy trì hoạt động với sản lượng 32.000 tấn gang/ năm;
- Nhanh chóng triển khai thi công Tổ hợp gang thép Cao Bằng để năm 2011 có thể đưa tổ hợp vào sản xuất với công suất 220.000 tấn phôi thép/ năm;
- Triển khai đầu tư xây dựng Tổ hợp gang thép Lào Cai với công suất tương tự như Tổ hợp gang thép Cao Bằng, dự kiến vào sản xuất đầu năm 2012.
Sản xuất sản phẩm từ đất hiếm
Tổng Công ty giữ cổ phần chi phối trong Công ty cổ phần Đất hiếm Lai Châu – VIMICO. Mục đích của Công ty là đầu tư khai thác và chế biến sâu đến sản phẩm tiêu dùng từ quặng đất hiếm Đông Pao. Tinh quặng đất hiếm sau tuyển nổi được sản xuất ra các sản phẩm như: oxit lantan, oxit ceri, oxit didim bằng công nghệ thuỷ, hoả luyện. Tổng đầu tư cho toàn bộ công trình khoảng 60 triệu USD (liên doanh với các Công ty từ Nhật Bản).
3. Các nguyên tắc trong quá trình đầu tư phát triển công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản
a. Trong quá trình đầu tư phải áp dụng các dây chuyền công nghệ tiên tiến, hiện đại trên thế giới và khu vực để nâng cao năng suất lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất và tận thu triệt để tài nguyên;
b. Phải đầu tư chế biến sâu các loại khoáng sản có trữ lượng lớn, một số loại khoáng sản có thể đầu tư đến sản phẩm tiêu dùng;
c. Trong quá trình đầu tư phải quan tâm đến các giải pháp đảm bảo an toàn, hạn chế độc hại, hạn chế nặng nhọc cho người lao động. Trong quá trình đầu tư và sản xuất, trong các dự án đầu tư phải có các công trình xử lý môi trường;
d. Phải đào tạo được đội ngũ cán bộ và công nhân kỹ thuật đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng cho từng dự án để có thể quản lý, vận hành được các dây chuyền công nghệ sản xuất hiện đại;
e. Phải ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình tổ chức sản xuất, áp dụng hệ thống tự động hoá, điều khiển PLC để điều chỉnh các chỉ tiêu công nghệ trong quá trình sản xuất;
g. Song song với đầu tư các khu sản xuất phải đầu tư các cơ sở hạ tầng, các khu nhà ở, khu sinh hoạt văn hoá ,thể thao để phục vụ sinh hoạt đời sống cho cán bộ, công nhân viên tại các công ty.
h. Phải có giải pháp kết hợp hài hoà lợi ích giữa doanh nghiệp với địa phương. Đối với các khu mỏ mới nên thành lập các Công ty cổ phần trong đó sự tham gia các doanh nghiệp và thể nhân của địa phương. Chú trọng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực từ địa phương, tham gia củng cố cơ sở hạ tầng ở địa phương để góp phần phát triển văn hoá và đời sống của đồng bào địa phương.
Với chiến lược đầu tư và phát triển trong thăm dò, khai thác và chế khoáng sản trong các năm tới chắc chắn là Tổng Công ty phát triển ổn định và vững chắc, góp phần vào công cuộc CNH, HĐH ngành khoáng sản. Để thực hiện được các mục đích trên, Tổng công ty Khoáng sản - TKV cần được sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương, Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam và sự hậu thuẫn của các địa phương nơi Tổng Công ty đang và sẽ hoạt động khai thác chế biến khoáng sản.








