Phát triển đô thị lớn cần thân thiện với môi trường trước thách thức biến đổi khí hậu
Việc công nghiệp hoá ngày càng lan rộng của các nước trong vòng 100 năm qua đã làm biến đổi cơ bản bộ mặt đô thị thế giới. Theo Liên Hiệp Quốc, hiện nay có khoảng gần một nửa số dân toàn cầu sống ở thành phố và đô thị. Nơi đây đã tiêu thụ 3/4 năng lượng chung. Các chuyên gia cho biết trong tương lai đến 2030, với tốc độ đô thị hoá tập trung thì các đô thị sẽ thu hút khoảng 3/4 dân số (trong đó, chủ yếu đổ dồn về các đô thị lớn). Các đô thị từ lâu đã được coi như vật thể sống, có tồn vong, có phát triển. Khi phát triển đô thị lớn, việc cải tạo, nâng cấp và mở rộng đô thị là tất yếu phải làm theo thời gian lịch sử. Đặc biệt, thời biến đổi khí hậu toàn cầu khắc nghiệt hoành nhành ở nhiều nơi thể hiện rõ rệt từ những thập kỷ cuối thế kỷ XX được quốc tế bắt đầu quan tâm đến nhiều hơn.
Theo đó, ở thời biến đổi khí hậu (BĐKH) đang xảy ra, các quốc gia cho rằng chủ yếu của tiến trình phát triển chung là do nhiệt độ trái đất ấm lên. Nguyên nhân do hiệu ứng nhà kính. Hiệu ứng có nguồn gốc từ khí phát thải, nước thải, ô nhiễm môi trường… làm tan băng ở hai cực trái đất khiến nước biển dâng lên… Hiện tượng này chủ yếu do hậu quả công nghiệp hoá mạnh kéo theo sự phát triển đô thị lớn khá nhanh. Nhất là sự quần cư tích tụ thiên lệch đổ dồn về đô thị lớn. Từ đó vấn đề dãn dân đô thị lớn trở thành chiến lược chung trong quy hoạch đô thị lớn thế giới.
Qua điều tra ở đô thị lớn, người ta đã phát hiện ở phần lõi trung tâm đô thị bao giờ nhiệt độ tập trung cũng cao hơn ở các vành đai chung quanh phía ngoài đô thị ấy. Chính là do mật độ xe cộ tập trung dày đặc phát thải khí nóng, các khu công nghiệp liền kề toả khí thải nhiệt bốc lên, các khu nhà ở nối tiếp mọc ra có lò sưởi ấm, điều hoà… tạo ra. Trung bình trong vòng một tuần, thế giới lại xuất hiện một đô thị mới tích tụ khoảng 1 triệu dân. Với tốc độ này, đến năm 2030, sẽ có khoảng gần 4 tỷ người sống ở đô thị, chủ yếu đổ dồn vào đô thị lớn.
Sự phát triển đô thị lớn diễn ra từng bước bằng cải tạo, nâng cấp và mở rộng từng phần đô thị. Thực tế, đã đẩy đô thị lớn đứng trước thách thức nhiều hơn ở thời BĐKH của thế kỷ XXI so với TK XX trước đây. Theo báo cáo của chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) đã công bố, Việt Nam được xếp vào nước đứng thứ hai của thế giới trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của bão, lũ do BĐKH gây ra.
Tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về BĐKH (COP) lần thứ 14 ngày 11/12/2008, qua báo cáo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cho biết: Việc thích ứng có hiệu quả và kịp thời đối với vấn đề BĐKH đã được Chính phủ Việt Nam coi là một nhiệm vụ trọng tâm và lâu dài. Trong 10 năm qua, những dấu hiệu của BĐKH đối với Việt Nam đã thể hiện qua mức độ, tần suất ngày càng tăng của các trận bão, hạn hán và ngập lụt gây ra. Thực tế ở đô thị lớn là Hà Nội bị ngập lụt xảy ra do mưa lớn diện rộng vào cuối tháng 10/2008 và TP Hồ Chí Minh bị ngập úng do triều cương, mưa to kếp hợp vào cuối năm 2008 đã cho thấy rõ tác hại của BĐKH.
Trước những thách thức nặng nề của thời BĐKH, việc phát triển đô thị lớn qua cải tạo, nâng cấp và mở rộng đô thị cần được chú trọng đến hướng phát triển đô thị thân thiện với môi trường và dãn dân nhiều hơn nữa.
Đây là một quan niệm nhận thức tuy không mới, nhưng cho đến nay vẫn còn chưa được nhận biết sâu sắc, đầy đủ và chưa thấm nhuần trong các giải pháp và biện pháp thực thi ở nhiều đô thị. Phát triển thân thiện với môi trường (PTM) về cơ bản nhằm mục tiêu phát triển bền vững. PTM cho đô thị lớn là phát triển cụ thể hơn, thiết thực hơn bảo vệ môi sinh cho đô thị ấy kết hợp với dãn dân.
Thực trạng tồn tại cụ thể của Hà Nội hiện có khoảng 1000 công trường lớn nhỏ đang thi công, trên 1 vạn m 2đường giao thông mỗi tháng bị đào bới để xây dựng mới hạ tầng kỹ thuật. Trong khi đó, có trên 2 triệu xe máy, khoảng 20 vạn xe ô tô lưu thông trên đường phố. Có gần 80 điểm ùn tắc xe cộ mỗi ngày. Nạn ô nhiễm không khí do bụi lơ lửng chung cả hai mùa ở Thủ đô Hà Nội cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2,5 đến 4,5 lân. Riêng tại các công trường, lượng bụi trong không khí cao vượt 20 – 30 lần, còn ở các tuyến đường chính vượt từ 5 – 7 lần. Một số khu vực đã được đo nồng độ bụi lớn nhất và tăng nhiều nhất là ở Văn Điển, Pháp Vân, Mai Động, Thanh Xuân. Nguyên nhân do hành động cải tạo, nâng cấp và mở rộng đô thị cục bộ kéo theo hoạt động GTVT khu vực tăng mạnh.
Đồng thời, mỗi này đêm Hà Nội thải ra 50 vạn m3 nước thải sinh hoạt, gần 30 vạn m3 nước thải từ công nghiệp, từ bệnh viện… qua hệ thống cống và mương ra 4 sông chính: Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu đang gây ô nhiễm nghiêm trọng. Tổng lượng chất thải rắn phát sinh của Hà Nội khoảng 2700 tấn/ngày. Riêng nội thành đã là 72 vạn tấn/năm (trong đó, thành phần phế thải xây dựng chiếm khối lượng khá lớn).
Phát triển Hà Nội qua việc cải tạo, nâng cấp và mở rộng đô thị cục bộ đây đó còn chưa chú trọng đến hướng chủ đạo phải làm là dãn dân, dãn công sở, trường dạy nghề, trường cao đẳng, đại học, bệnh viện lớn… ra ngoại vi. Việc xây dựng các đô thị vệ tinh ở ngoại vi còn chưa đồng bộ đầy đủ các hạng mục hạ tầng, xã hội, hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ tối thiểu đi kèm. Chẳng hạn còn tồn tại ở các khu đô thị mới ở phía Tây của Hà Nội cũ, của Hà Đông… Các khu đô thị mới xây chủ yếu vẫn còn là các khu nhà ở thuần tuý còn thiếu yếu tố thu hút dãn dân quan trọng. Đó là yếu tố hạng mục công trình giao thương (giao thông + thương mại dịch vụ). Ở đây, các đường giao thông phải phân theo nhiều cấp như: đường chính, đường gom, đường vào khu vực nhà ở, đường nội bộ dãy nhà, lối đi bộ… thảm cây xanh. Các công trình thương mại dịch vụ và hạ tầng xã hội đi kèm cần có để phục vụ dân sinh là các quầy hàng, ki ốt, chợ, siêu thị, trường học, trạm xá, dịch vụ sửa chữa đồ gia dụng, xe cộ…
Sức thu hút dân chúng đến ở các khu đô thị mới chưa cao, nhiều khi lại là vấn đề cấp điện, cấp nước, thoát nước, thu gom rác… tối thiểu. Ngoài ra, còn nguyên nhân ùn tắc xe cộ ở cửa ngõ các khu đô thị mới. Việc tồn tại hoặc do thiéu cầu vượt ở ngã giao nhau từ khu đô thị mới đâm ra đường chính hoặc do thiếu cấu tạo đường gom cần có.
Tất cả những hiện trạng tồn tại trên là do quá trình xây dựng đô thị đã không tuân thủ trình tự quy hoạch hoặc quy hoạch xây dựng thiếu đồng bộ. Nguyên nhân sâu xa là chưa thật sự quá triệt PTM ở đây đó. Có nghĩa là chưa quan tâm đúng mức đến đối tượng phục vụ về mọi mặt là khách hàng dân cư đến sinh sống ở khu đô thị mới được mang danh là Khu nhà ở Thế hệ mới theo tiêu chuẩn văn minh mới.
Việc tích cực xây dựng nhiều khu đô thị mới trong vòng 10 năm qua là sự tiến bộ vượt bậc đáng mừng của các đô thị lớn như: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại về PTM khiếm khuyết mà vấn đề nổi cộm là cấp nước sạch và đặc biệt là thoát nước, tiêu úng, môi trường cây xanh cần có quanh các khu nhà, thu gom rác triệt để…
Hiện nay, việc cải tạo, nâng cấp và mở rộng đô thị lớn hãy còn chưa làm cân đối, còn thiên lệch dồn vào cải tạo, nâng cấp ở khu Trung tâm đô thị lớn. Tại đó, nhà chung cư cũ phá đi, xây mới cao ốc, vẫn lại là sự tích tụ thêm dân cư chứ không phải thực sự là dãn dân đô thị lớn như xu hướng hoạch địch của các nhà chiến lược đô thị lớn trên thế giới phải là dãn dân trước thách thức cấp bách của thời BĐKH. Như thế, áp lực dân số mà hệ lụy kéo theo là vấn nạn rác thải, nước thải, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông… vẫn còn đề nặng lên đô thị.
Quan điểm của chúng tôi là cần xây dựng thật hoàn chỉnh, đồng bộ, dứt điểm các đô thị mới vệ tinh ở ngoại vi. Phải xây đô thị mới nào ra đô thị mới ấy, thật đủ sức hấp dẫn dãn dân nội thành chật hẹp. Nhà nước cần có chính sách và cơ chế đặc thù, thông thoáng mới đảm bảo thu hút dãn dân mạnh hơn, xúc tiến di dời các cơ quan, trụ sở, bệnh viện, trường học, xí nghiệp… ra ngoại vi thì mới có thể tạo ra một cuộc cách mạng cho đô thị lớn đời mới có khả năng PTM tốt hơn, đảm bảo phát triển bền vững đô thị trước thách thức lớn của thời BĐKH.








