Phát triển công nghệ cao ở Trung Quốc
Chủ trương và những mốc phát triển
Vào những năm 80 của thể kỷ XX, xu hướng phát triển quan trọng của hoạt động KH&CN Trung Quốc là nhập công nghệ nước ngoài để tăng nhanh năng lực sản xuất và giảm dần tỷ trọng chi tiêu của Chính phủ cho hoạt động KH&CN. Bước ngoặt quan trọng trong chiến lược KH&CN diễn ra vào năm 1985, khi Đảng Cộng sản Trung Quốc coi “KH&CN hiện đại là những yếu tố năng động và có tính quyết định trong các động lực tăng trưởng mới...” để tiến hành cải cách. Từ chủ trương trên, kế hoạch phát triển dài hạn với nhiều chương trình KH&CN đã hướng vào đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và quốc phòng. Theo đó, Chương trình nghiên cứu phát triển CNCvà Chương trình Ngọn đuốc (thực chất là một chương trình phát triển CNC và công nghệ mới với cốt lõi là phát huy thế mạnh tiềm năng KH&CN để thúc đẩy công nghiệp hoá - CNH, thương mại hoá - TMH và quốc tế hoá - QTH) những thành tựu, sản phẩm CNC và mới theo định hướng thị trường) đã có ảnh hưởng rộng lớn đến sự phát triển các ngành CNC.
Khẳng định lại mục tiêu phát triển KH&CN thông qua quyết định đẩy nhanh tiến bộ KH&CN nhằm mục tiêu“tiếp thêm sinh lực cho đất nước bằng khoa học và giáo dục”, kế hoạch 5 năm lần thứ X (2001-2005) của Trung Quốc đã đặt KH&CN và giáo dục vào vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và chuyển đổi tiến trình xây dựng kinh tế theo hướng dựa vào KH&CN và hiệu quả lao động. Ưu tiên chiến lược đối với KH&CN được xác định là đẩy mạnh, nâng cấp công nghệ trong các ngành công nghiệp và tăng cường năng lực đổi mới. Với chiến lược này, Trung Quốc đã có nhiều giải pháp nhằm: Cải thiện năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (R&D) của khu vực doanh nghiệp; phát triển các ngành công nghiệp CNC; cải tổ sâu hơn hệ thống KH&CN; đẩy mạnh cung cấp tài chính và tối ưu hoá việc phân bổ nguồn lực cho R&D.
Nhằm tăng GDP cả nước lên gấp 4 lần, đạt 4.000 tỷ USD và bình quân đầu người 3.000 USD vào năm 2020, Trung Quốc chủ trương thực hiện “con đường công nghiệp hoá mới”, lấy KH&CN và giáo dục là hai trụ cột phát triển chính. Chính phủ đã thực thi những biện pháp tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước theo đuổi chiến lược, tạo lập quan hệ với đối tác nước ngoài, nhằm khai thác cao nhất năng lực công nghệ của các tổ chức liên quan.
Chương trình nghiên cứu, phát triển CNC 863
Chương trình này bao gồm những nội dung mang tính chiến lược, nhằm tập trung các nguồn lực tốt nhất vào thực hiện mục tiêu đuổi kịp trình độ công nghệ tiên tiến thế giới, tạo đột phá trong một số lĩnh vực quan trọng để xoá đi khoảng cách về công nghệ với các nước phát triển.
Để phát triển các lĩnh vực CNC, Trung Quốc đã thiết lập mối quan hệ với trên 20 quốc gia trên thế giới. Chính nhờ mối quan hệ này mà nghiên cứu CNC của Trung Quốc đã trở thành một phần của R&D toàn cầu. Trung Quốc đã tăng gấp đôi chi tiêu R&D trong vòng một thập kỷ; đã có trên 862 ngàn cán bộ nghiên cứu khoa học, vượt xa Nhật Bản (chỉ sau Mỹ). Hiện nay, cứ 5 nhà nghiên cứu ở Mỹ thì có 3 là người Trung Quốc và theo dự báo cuối thế kỷ này, số lượng tiến sỹ khoa học kỹ thuật sẽ vượt Mỹ. Mặc dù còn thua kém Mỹ về đăng ký patent, song Trung Quốc đang nhích dần lên trong bảng xếp hạng, đặc biệt là những công nghệ nổi trội về thông tin, sinh học và vật liệu mới.
Bằng những giải pháp tích cực, thiết thực trong tổ chức thực hiện, Trung Quốc đã thu hẹp được khoảng cách tổng thể về công nghệ so với các nước phát triển (60% số công nghệ bắt đầu từ điểm xuất phát đã đạt hoặc gần bằng trình độ thế giới, có 11% được đánh giá ở mức độ tiên tiến).
Thành công nổi bật
Với nỗ lực cao trên con đường CNH mới, KH&CN và công nghiệp CNC Trung Quốc đã có nhiều thành công trong chuyển đổi, đưa nền kinh tế nhanh chóng từ dựa vào nhân công thành nền kinh tế có công nghệ cao và giữ vai trò quan trọng trong chuỗi cung cấp CNC toàn cầu. Từ năm 1990 đến nay, tổng sản phẩm xuất khẩu của Trung Quốc tăng hơn 8 lần, đạt 380 tỷ USD vào năm 2003, phần lớn mặt hàng xuất khẩu nằm trong nhóm CNC, riêng hàng điện tử, máy móc và thiết bị vận tải chiếm khoảng 43% tổng kim ngạch xuất khẩu. Sau 12 năm phát triển, tổng giá trị sản phẩm CNC xuất khẩu của Trung Quốc so với Mỹ đã tăng từ 8% lên 50% vào năm 2004. Với đà tăng trưởng này, nhiều dự báo cho rằng Trung Quốc sẽ vươn lên ngang hàng với Mỹ và các nước EU trong vòng 5 đến 10 năm tới.
Về công nghệ sinh học (CNSH): Với sự tham gia của trên 500 nhà khoa học do mình quản lý, Viện Khoa học Trung Quốc (CAS) đã giải mã thành công gen cây lúa và Trung Quốc đã trở thành nước đầu tiên trên thế giới thành lập và hoàn thiện thư viện gen lúa, nắm giữ những công nghệ then chốt để biến đổi gen ở cây bông, nhân bản vô tính và cấy gen chống chịu sâu bệnh... Thành công trong nghiên cứu CNSH đã tạo cơ sở để xây dựng các nhà máy sản xuất, thử nghiệm trên 20 loại thuốc, vắcxin biến đổi gen và mở rộng tới nhiều gen liên quan đến căn bệnh chủ yếu của người hoặc tạo ra chất interferron ức chế sinh sản...
Về thông tin và tự động hoá: Trung Quốc đã thành công trong xử lý song song trên quy mô lớn và các thế hệ máy tính tốc độ cao, tạo nền tảng cạnh tranh vững chắc cho sản phẩm công nghiệp trên thị trường toàn cầu. Trao đổi kỹ thuật số SPC của Trung Quốc đã chiếm lĩnh trên 7,5% thị phần thế giới; hệ thống ghép kênh quang học theo bước sóng (WDM) có bộ khuyếch đại ánh sáng trực tuyến đã đưa Trung Quốc trở thành nước có vị trí hàng đầu về các hệ thống truyền WDM tốc độ cao. Hệ thống tích hợp máy tính (CIMS), như một mô hình cải cách nền tảng công nghiệp, mang ý nghĩa to lớn để Trung Quốc chuyển sang mô hình phát triển dựa vào CNC. Cùng với CIMS, thành công trong việc chế tạo rôbốt thăm dò địa tầng đáy biển ở độ sâu 6.000 m, đã đem lại những tư liệu có giá trị về sự phong phú của khoáng sản dưới đại dương.
Về công nghệ nano: Ngày nay, Trung Quốc đã có hàng chục trung tâm nghiên cứu lớn với sự tham gia của hàng trăm công ty uy tín, tạo thành một ngành công nghiệp CNC có giá trị cao. Nét nổi bật của sự hình thành, phát triển công nghiệp nano vừa mang tính dân sự, vừa phục vụ nhiệm vụ quốc phòng. CAS đã thành lập những trung tâm công nghệ, nâng cao chất lượng hợp tác khoa học và cung cấp cho các phòng R&D công nghệ nano phân tử những trang thiết bị đo đạc và kiểm soát tiên tiến. Các nhà khoa học Trung Quốc đã cho ra đời phương pháp sản xuất ống nano cacbon với tốc độ nhanh gấp 60 lần các nhà khoa học Mỹ (đạt 15 kg/giờ).
Với mục tiêu TMH nhanh kết quả R&D và CNH CNC, 53 khu phát triển công nghiệp CNC (HTIDZ) đã được xây dựng. HTIDZ là các cụm CNC được các trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghiệp cùng đầu tư nghiên cứu, phát triển. Nhiều cụm đã thu hút được những nhà đầu tư nước ngoài như Microsoft, Motorola, IBM, Nokia, Samsung, Electronic, El... tham gia. Từ năm 1992 đến 2003, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của các HTIDZ Trung Quốc rất đáng khích lệ, với mức gia tăng 51% về doanh thu, 55% về giá trị xuất khẩu và trên 42% về lợi nhuận. Năm 2003, các HTIDZ đã có trên 33 nghìn đơn vị hoạt động, tạo việc làm cho gần 4 triệu lao động, mang lại doanh thu trên 253 tỷ USD.
Nhân tố tạo thành công
Phân tích thành công của Trung Quốc trong phát triển ngành công nghiệp CNC, nhiều công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh đến vai trò của Nhà nước, các tổ chức nghiên cứu, đào tạo; chiến lược đầu tư, thu hút các đối tác nước ngoài; tăng cường năng lực R&D trong doanh nghiệp; liên doanh liên kết và quan trọng là sự phối hợp tập trung trong các chương trình hành động quốc gia.
Chính phủ dành sự quan tâm lớn cho ngành công nghiệp CNC, thành lập nhiều trung tâm đào tạo CNC ở các thành phố, có chính sách khuyến khích để thu hút các nhà khoa học có trình độ cao trở về nước làm việc. Chính phủ cũng đã xây dựng nhiều công viên khoa học gắn với đại học, cung cấp nhân tài để mở mang phát triển công nghiệp CNC với tham vọng KH&CN sẽ trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh và sức mạnh toàn diện của đất nước. Những nhà đầu tư nước ngoài, nếu là đối tác CNC sẽ có lợi ích đáng kể về quan hệ, nhận được những thông tin minh bạch trong hoạch định chiến lược, chính sách công nghiệp, chính trị và pháp lý để đảm bảo ký kết hợp đồng trên cơ sở lựa chọn kỹ lưỡng nhằm tận dụng thời cơ cũng như động thái chính sách và công nghệ.
CAS là tổ chức tư vấn cao nhất về chính sách và phát triển KH&CN quốc gia. Nhiều chương trình KH&CN trọng điểm nhà nước đã được hình thành từ những đề xuất của CAS. CAS bắt đầu thành lập doanh nghiệp CNC vào năm 1980, đến nay đã có trên 500 doanh nghiệp CNC và hơn 400 tổ chức định hướng vào cung cấp dịch vụ. CAS đã tạo được những đột phá lớn về CNC trong các lĩnh vực thông tin, sinh học, vật liệu mới, trở thành lực lượng nòng cốt trong những khu công nghiệp CNC.
Phát triển lực lượng các nhà khoa học tài năng là một yếu tố quan trọng, góp phần đưa Trung Quốc đến thành công trong phát triển CNC. Hiện nay, khoảng 1/2 số người có bằng tiến sỹ khoa học kỹ thuật của Trung Quốc được nhận từ Mỹ; các trường kỹ thuật được tập trung đầu tư nâng cao các hệ phương pháp luận, công nghệ và phương pháp thực hành để đạt chất lượng phương Tây. Cùng với nhân tài trong nước, Trung Quốc đã thu hút được chất xám của người Hoa ở nước ngoài và đang biến thành một lợi thế cạnh tranh trong các lĩnh vực kỹ thuật siêu dẫn, công nghệ nano và quang học.
Bên cạnh đó, Trung Quốc đã thu hút nhiều đối tác tham gia để đẩy nhanh tốc độ và nâng cao năng lực công nghệ từ mức đơn giản (bán và cung cấp sản phẩm), liên kết sản xuất đến thiết kế và phát triển, mở rộng ngành công nghiệp CNC. Chiến lược thu hút này đã mang lại hiệu quả thiết thực, nhờ đó, nhiều doanh nghiệp và các lĩnh vực CNC đã phát triển mạnh, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường. Thay vì việc đẩy các công ty nước ngoài ra khỏi thị trường, Trung Quốc đã khuyến khích các công ty nổi tiếng trong nước liên minh, hợp tác với họ. Quá trình hợp tác với đối tác nước ngoài trong hoạt động R&D đã tạo điều kiện giúp Trung Quốc vượt qua những khó khăn trong tích hợp hệ thống tiêu chuẩn công nghệ trong nước. Đầu tư R&D nước ngoài vào Trung Quốc là một xu thế quan trọng, được coi là một nhân tố chủ chốt trong phát triển CNC. Trung Quốc được các công ty nước ngoài đánh giá là nơi đầu tư R&D tốt nhất (39%), tiếp đó là Mỹ (29%) và ấn Độ (28%).
Những thách thức cần vượt qua
Ngành công nghiệp CNC Trung Quốc đã có những bước phát triển để trở thành một trong những động lực tăng trưởng chủ chốt của nền kinh tế. Tuy nhiên, sự phát triển của ngành vẫn còn phải đối mặt với nhiều thách thức.
Hiệu quả đầu tư chưa cao, ít được cải thiện. HTIDZ được coi là một thành công lớn, nhưng vào năm 2003, tỷ lệ lợi nhuận ròng so với doanh thu chỉ đạt 5,4%. Với đầu tư gia tăng của ngành công nghiệp CNC, hiệu quả đem lại năm 2002 chỉ bằng 83% so với năm 1995. Trong xu thế toàn cầu, các công ty đa quốc gia thường đầu tư R&D vào gần nơi sản xuất, song tương quan giữa giá trị đầu tư R&D của các chi nhánh nước ngoài với hàng hoá được tạo ra còn thấp. Đầu tư R&D CNC của các công ty nước ngoài tại Trung Quốc mới chiếm 22%, nghĩa là với 1 đơn vị vốn đầu tư cho R&D CNC, các tổ chức nội địa còn phải chi tới 0,78 đơn vị vốn.
Tỷ trọng hàng gia công chế biến với nguyên liệu nhập khẩu còn cao, chiếm trên 89,5% tổng lượng hàng xuất khẩu CNC. Doanh nghiệp CNC Trung Quốc dường như không có sản phẩm được quyền sở hữu độc lập hoặc nếu có thì khả năng cạnh tranh lại kém, cán cân nhập siêu trong thương mại sản phẩm CNC còn ở mức trên 8,98 tỷ USD (năm 2003).
Chủ trương phát triển các ngành công nghiệp CNC còn nặng về ưu tiên của Chính phủ. Những nỗ lực để các nhà đầu tư nước ngoài hợp tác với các công ty hàng đầu trong ngành công nghiệp CNC và các giải pháp bảo hộ, ưu tiên cho các doanh nghiệp trong nước không chỉ giảm lòng tin của nhà đầu tư nước ngoài mà còn có thể đem lại rủi ro, dẫn tới giảm mức độ và loại hình đầu tư của nước ngoài vào Trung Quốc.
Nhìn chung, giá trị gia tăng của ngành công nghiệp CNC Trung Quốc còn thấp, thua nhiều nước công nghiệp phát triển, về tổng thể nó vẫn còn ở mức thấp trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Giải pháp phát triển
Trong bối cảnh của nền kinh tế thế giới và sự phát triển mạnh mẽ của KH&CN, Trung Quốc đã xác định mục tiêu và những nỗ lực nhằm xoá bỏ những trở ngại để KH&CN có thể hỗ trợ mạnh mẽ cho sự nghiệp phát triển đất nước. Bằng cách triển khai những dự án trọng điểm được điều chỉnh phù hợp, các nhà khoa học và quản lý Trung Quốc đang tạo ra những mô hình phát triển KH&CN thích ứng để có được những đột phá và phát triển nhảy vọt trong một số lĩnh vực CNC và mới. Hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia hàng đầu về KH&CN, có nền kinh tế phát triển dựa trên CNC và năng lực cạnh tranh toàn cầu mạnh, Trung Quốc đang tập trung vào những chiến lược phát triển KH&CN theo hướng:
- Phát triển nhảy vọt, nhằm đẩy nhanh ngành công nghệ thông tin (IT), CNSH và vật liệu mới (Trung Quốc dành trên 120 tỷ USD đầu tư phát triển IT để tăng quy mô gấp đôi và tạo ra 7% GDP cả nước. Bằng nguồn này, Trung Quốc hy vọng sẽ trở thành nhà cạnh tranh toàn cầu lớn nhất về các lĩnh vực công nghệ quan trọng). Sử dụng IT để đẩy nhanh tiến trình CNH, tạo ra nhiều hệ thống IT thông dụng trong các lĩnh vực kinh tế và quản lý xã hội.
- Thúc đẩy năng lực đổi mới để tiếp thu sáng tạo CNC.
- Cải thiện năng lực, kết hợp nguồn lực R&D và các chương trình KH&CN quốc gia, chú trọng đến sự hợp tác liên ngành nhằm phát triển các sản phẩm và doanh nghiệp công nghiệp CNC.
- Thúc đẩy nhanh tiến trình xây dựng công nghiệp CNC, đổi mới các khu công viên CNC quốc gia, hỗ trợ mạnh mẽ các doanh nghiệp và cung cấp dịch vụ hỗ trợ cần thiết.
- Tăng cường hợp tác quốc tế, hỗ trợ các nhà khoa học Trung Quốc tham gia tích cực vào các dự án khoa học lớn mang tính toàn cầu.
- Cải thiện chiến lược nguồn nhân lực nhằm tạo ra hệ thống mở mang tính cạnh tranh, phát triển nhân lực KH&CN trong nước, đồng thời tăng cường thu hút nhân lực có trình độ cao từ nước ngoài dựa trên cơ sở chọn lọc (xây dựng các trung tâm đào tạo công nghệ của nhà nước ở mọi vùng, có chính sách mới để thu hút Hoa kiều có kỹ năng và trình độ cao trở về nước làm việc và những quy định thuận lợi cho hoạt động của các tổ chức R&D nước ngoài tại Trung Quốc được coi là những giải pháp quan trọng để đào tạo cả về kỹ năng công nghệ lẫn khái niệm và kinh nghiệm quản lý phương Tây).
Theo những định hướng trên đây, trong kế hoạch 5 năm lần thứ XI (2006-2010), Trung Quốc dự định sẽ tăng tỷ lệ đầu tư cho KH&CN lên 2% GDP và dựa vào công nghệ để chuyển nền kinh tế sang sản xuất kiểu mới thay đổi về chất theo tiêu chuẩn CNC, tiên tiến. Với cách tiếp cận tập trung vào hướng dẫn định hướng hơn là đưa ra các chỉ tiêu cụ thể, chi tiết của kế hoạch phát triển KH&CN, giới nghiên cứu hy vọng là nền KH&CN Trung Quốc sẽ phát triển nhanh hơn những gì dự báo trước đây.
Nguồn: tchdkh.org.vn, tháng 06/2006








