Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 25/11/2010 19:23 (GMT+7)

Phát triển chương trình đào tạo trong các trường cao đẳng nghề

Hàng năm các trường này đào tạo nghề từ 1 – 1,5 triệu người trở lên, góp phần nâng cao tỉ lệ lao động qua dạy nghề lên 26%. Chất lượng đào tạo dạy nghề được nâng cao. Nhiều mô hình dạy nghề có hiệu quả như dạy nghề trình độ cao, dạy nghề cho nông dân, dạy nghề cho thanh niên, dân tộc thiểu số, cho bộ đội xuất ngũ, cho xuất khẩu lao động, cho các đối tượng chính sách xã hội khác… góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, góp phần ổn định xã hội (1).

Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, sự nghiệp đào tạo nghề nước ta đã bộc lộ những tồn tại, bất cập. Mạng lưới cơ sở dạy nghề, quy mô và chất lượng đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, yêu cầu đa dạng của xã hội. Một bộ phận học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường vẫn khó khăn trong tìm việc làm vì trình độ, kĩ năng nghề yếu, thường phải đào tạo lại mới đáp ứng với yêu cầu doanh nghiệp. Nội dung, chương trình nặng nề dàn trải, áp đặt. Cơ sở vật chất, trang thiết bị máy móc, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập còn cũ kĩ, lạc hậu… Sự hợp tác, liên kết giữa các cơ sở dạy nghề với các doanh nghiệp chưa chặt chẽ… (2). Trong các yếu tố gây nên các bất cập nêu trên cần phải nhắc đến chương trình dạy nghề. Để chất lượng đào tạo nghề đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động thì chương trình dạy nghề phải được xây dựng sát với yêu cầu của thị trường lao động, đáp ứng được sự thay đổi của khoa học, kĩ thuật và công nghệ mới; chương trình dạy nghề phải được xây dựng theo một phương pháp khoa học, đồng thời phải được thường xuyên cập nhật, bổ sung, sửa đổi. Mặt khác, chương trình khung dạy nghề phải được xây dựng và quản lí thống nhất, góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo nghề giữa các cơ sở dạy nghề trên phạm vi toàn quốc.

Để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với thị trường lao động, bài viết này tập trung tìm hiểu việc phát triển chương trình đào tạo trong các trường cao đẳng nghề, từ đó đưa ra một số đề xuất, giải pháp cho việc xây dựng và phát triển chương trình đào tạo trong các trường cao đẳng nghề đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

1. Một số khái niệm cơ bản về phát triển chương trình đào tạo nghề

1.1 Khái niệm “chương trình đào tạo nghề”

Trước hết ta cần làm rõ thuật ngữ chương trình đào tạo (CTĐT). Nghĩa thông thường được sử dụng là một văn bản quy định mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra đối với một ngành đào tạo, các khối kiến thức và các môn học, tổng thời lượng cùng thời lượng dành cho mỗi môn mà nhà trường tổ chức giảng dạy để trang bị các kiến thức, kĩ năng, thái độ cần thiết cho sinh viên theo học một ngành nào đó. Nghĩa này tương đương với nội dung của thuật ngữ tiếng Anh “curriculum”. Có thể lấy ví dụ CTĐT ngành Cơ khí Động lực, hay ngành Công nghệ thông tin…

Tiếp theo ta cần tìm hiểu khái niệm “CTĐT nghề”: Đó là một văn bản quy định mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra đối với một nghề đào tạo. Nghĩa này tương đương với nội dung của thuật ngữ tiếng Anh “training program” hay “job training program”. Trong một ngành nào có thể có một hoặc nhiều nghề, theo ví dụ trên thì trong ngành cơ khí động lực có thể có các nghề sửa chữa Gầm, Sửa chữa Điện, hoặc sửa chữa Động cơ ô tô… trong ngành Công nghệ thông tin có thể có nhiều nghề như Lập trình, Thiết kế Web, hay Sửa chữa, bảo trì máy tính… (5).

1.2 Khái niệm “Xây dựng – phát triển CTĐT nghề”

Có rất nhiều quan niệm khác nhau về xây dựng chương trình (XDCT) và phát triển CTĐT. Người ta thường hiểu XDCT đào tạo là xây dựng một chương trình mới, còn phát triển CTĐT là cải tiến, sửa chữa cập nhật một CTĐT cũ thành một CTĐT mới. Quan điểm trên chỉ đúng một nửa, bởi vì ngay khi XDCT, người ta cũng cần phải có những nền tảng của kiến thức, kĩ năng và thái độ sẵn có, do vậy XDCT và Phát triển CTĐT là hai khái niệm hết sức gần gũi, có thể thay thế cho nhau, không nên tách bạch chúng một cách rạch ròi. Theo quan diểm của Tyler, một nhà giáo dục người Mỹ, về cơ bản, sự phát triển CTĐT là một kế hoạch xây dựng môi trường để phối hợp các yếu tố thời gian, không gian, vật chất, thiết bị và con người theo một trật tự nhất định.

Để xây dựng và phát triển CTĐT, chúng ta cần lưu ý đến 10 nguyên tắc sau: 1. Thay đổi chương trình là cần thiết và không thể tránh được; 2. Thay đổi chương trình là sản phẩm của thời đại; 3. Các thay đổi trong chương trình xảy ra ở giai đoạn đầu có thể cũng tồn tại và đan xen với những thay đổi ở giai đoạn sau; 4. Thay đổi chương trình chỉ xảy ra ở giai đoạn sau; 4. Thay đổi chương trình chỉ xảy ra khi con người bị thay đổi; 5. XDCT là một hoạt động nhóm hợp tác; 6. XDCT về cơ bản là một quá trình chọn lựa giữa nhiều khả năng thay thế; 7. XDCT không bao giờ kết thúc; 8. XDCT sẽ hiệu quả hơn nếu như đó là một quá trình toàn diện, chứ không phải là quá trình từng phần; 9. XDCT sẽ hiệu quả hơn nếu nó tuân theo một quá trình có hệ thống; 10. XDCT bắt đầu từ chương trình hiện hành (3).

Có rất nhiều mô hình phát triển CTĐT. Theo mô hình phát triển chương trình học của Tyler đã được Taba phát triển vào năm 1962, quá trình phát triển CTĐT gồm bảy giai đoạn chính như sau: 1. Đánh giá nhu cầu; 2. Xây dựng các mục tiêu; 3. Chọn lựa nội dung; 4. Sắp xếp nội dung; 5. Chọn lựa các yêu cầu học tập; 6. Tổ chức các hoạt động học tập; 7. Xác định đối tượng và phương pháp đánh giá.

Một số quy trình được đề nghị sau này, khác với Taba, ít phụ thuộc vào nội dung. Trong ví dụ sau đây Kathryn Feyereisen trình bày sự phát triển chương trình học như là một chuỗi giải quyết vấn đề: 1. Xác định vấn đề; 2. Khảo sát vấn đề; 3. Tìm kiếm giải pháp; 4. Chọn lựa giải pháp tốt nhất; 5. Giải pháp được cơ quan thông qua; 6. Giải pháp được chính thức chọn lựa; 7. Thử nghiệm giải pháp; 8. Chuẩn bị các tiền đề cho giải pháp; 9. Thực hiện giải pháp. 10. Định hướng và hướng dẫn cho người thực hiện; 11. Đánh giá tính hiệu quả (4).

Như vậy, sự quan tâm của Feyereisen phản ánh một xu hướng phát triển chương trình học theo quan điểm vĩ mô. Theo quan điểm này, phát triển chương trình học được xem là một quá trình phát triển có tính hệ thống.

2. Một số đặc điểm về XDCT của các trường cao đẳng nghề hiện nay

Từ 2003 đến nay, Chương trình dạy nghề xây dựng theo “Quy định về nguyên tắc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình dạy nghề” được ban hành kèm theo Quyết định số 212/2003/QĐ-LĐTBXH của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội. Từ đó đến nay Bộ Lao động TBXH đã chỉ đạo các cơ sở dạy nghề và các cơ quan của Bộ tổ chức xây dựng và ban hành chương trình khung cho 164 nghề ở hai trình độ cao đẳng và trung cấp.

Chương trình khung cho từng nghề đào tạo là chương trình quy định khối lượng kiến thức, kĩ năng tối thiểu mà người học nghề ở một nghề xác định, một trình độ xác định phải đạt được sau khóa học. Khối lượng kiến thức, kĩ năng này còn gọi là “phần cứng”. Phần cứng chiếm khoảng 75% chương trình đào tạo.

Theo đó, một CTĐT (cao đẳng và trung cấp) gồm 3 phần: Các mô đun (môn học) chung như Chính trị, Pháp luật, Tin học, Ngoại ngữ, Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng; Các mô đun (môn học) cơ sở và các mô đun (môn học) chuyên ngành. Tổng thời lượng dành cho các mô đun chung là khoảng 1 học kì đối với các lớp 3 năm và một nửa học kì đối với lớp 2 năm, cho các môn du cơ sở là khoảng 1,5 học kì đối với các lớp 3 năm và 1 học kì đối với lớp 2 năm, cho các mô đun chuyên ngành vào khoảng 3 – 4 học kì còn lại, trong đó có cả giai đoạn thực hành, thực tập và tốt nghiệp.

Trên cơ sở chương trình khung cho từng nghề, các trường xây dựng chương trình đào tạo cho từng nghề của trường mình bằng cách lựa chọn khoảng 25% kiến thức và kĩ năng đã được xác định trong chương trình khung. Phần 25% này gọi là “phần mềm” hay còn gọi là phần kiến thức và kĩ năng nghề tự chọn. Các cơ sở dạy nghề lựa chọn các kiến thức, kĩ năng sao cho phù hợp với đặc điểm lao động của ngành và của từng vùng. Như vậy, chương trình đào tạo có thể khác nhau giữa các trường ở phần 25% kiến thức và kĩ năng tự chọn. Các trường tổ chức xây dựng và phê duyệt chương trình đào tạo để sử dụng cho trường mình. Trên cơ sở chương trình đào tạo, các trường tổ chức xây dựng, thẩm định và phê duyệt giáo trình và sách dùng cho giáo viên của trường mình.

3. Một số đề xuất, giải pháp về xây dựng và phát triển CTĐT trong các trường cao đẳng nghề giai đoạn hiện nay

Trên cơ sở lí luận về xây dựng và phát triển CTĐT, và đánh giá thực trạng việc xây dựng và phát triển CTĐT của các trường cao đẳng nghề trong thời gian vừa qua, tác giả bài viết xin mạnh dạn đưa ra một số đề xuất, giải pháp về xây dựng và phát triển CTĐT cụ thể như sau:

Thứ nhất, cần tổ chức nghiên cứu đánh giá một cách khách quan hiệu quả những CTĐT đã ban hành, trên cơ sở khảo sát các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp sử dụng lao động qua đào tạo nghề. Cần tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm giữa các cơ sở dạy nghề với các công ty, xí nghiệp, doanh nghiệp và cơ quan sử dụng lao động để đánh giá hiệu quả của CTĐT.

Thứ hai,xây dựng và hoàn thiện nội dung, CTĐT nghề, gắn chặt đào tạo lí thuyết với rèn luyện kĩ năng thực hành, gắn đào tạo nghề với rèn luyện phẩm chất đạo đức nghề, tác phong công nghiệp, kỉ luật lao động; tăng cường cơ sở vật chất, trang bị máy móc, thiết bị, phương tiện phục vụ cho giảng dạy, học tập, từng bước tiếp cận với công nghệ, kĩ thuật tiên tiến, hiện đại, sát hợp với yêu cầu thực tế sản xuất của thị trường lao động. Đối với căn bản phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa người học. Tăng thời gian thực hành, thực tập, giảm thời gian học lí thuyết để không ngừng nâng cao trình độ, kĩ năng nghề cho người học.

Thứ ba, cần xây dựng CTĐT liên thông giữa các cấp học, ngành học để người học có thể dễ dàng chuyển đổi nghề nghiệp và được tiếp tục đào tạo ở các bậc học cao hơn.

Thứ tư,đi đôi với việc xây dựng CTĐT, cần xây dựng chuẩn đầu vào và chuẩn đầu ra chặt chẽ cho các cấp độ đào tạo nghề, bảo đảm CTĐT đáp ứng nhu cầu sử dụng lao động của xã hội. Cần thiết thành lập các Trung tâm khảo khí, kiểm định chất lượng đào tạo độc lập nhằm đánh giá khách quan chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo.

Thứ năm,Nhà nước cần tiếp tục đầu tư nâng cấp một số trường dạy nghề để đáp ứng trình độ khu vực và quốc tế, các trường đã đạt chuẩn cần được nhân rộng mô hình để chúng ta có thể nhanh chóng nắm bắt công nghệ dạy học mới cũng như công nghệ sản xuất, dịch vụ mới, gắn đào tạo dạy nghề với chiến lược phát triển của khu vực Đông Nam Á và thế giới.

Tài liệu tham khảo

1. Bài phát biểu của Bộ trưởng Bộ Lao động - TBXH - Nguyễn Thị Kim Ngân trong buổi lễ kỉ niệm 40 năm ngày thành lập Tổng Cục Dạy nghề - Hà Nội, tháng 10 năm 2009.

2. Per F. Ovila, Xây dựng chương trình học, Nxb Giáo dục, 2005.

3. John Wiles and Joseph Bondi, Xây dựng chương trình học, Hướng dẫn thực hành, Nxb Giáo dục, 2005.

4. Curtis R. Finch and John R. Crunkilton, Curriculum Development in Vocational and Technical Education,Virginia Polytechnic Institute and State University, 1993.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.