Phân lập vi khuẩn cổ oxy hóa ammonia tự dưỡng ở biển
Tuy nhiên, các nghiên cứu sử dụng phương pháp không qua nuôi cấy cho thấy một số lớn Crenarchaeota sống trong những vùng nước biển lạnh có Oxy. Các nghiên cứu phân tử sau đó khám phá ra rằng Crenarchaeota nhiệt độ thấp phân bố rộng rãi trong các môi trường đất và nước.
Crenarchaeota biển thống trị về mặt số lượng - ước tính 10 28tế bào trong các vùng biển toàn cầu - chứng tỏ chúng có vai trò quan trọng trong các chu trình sinh địa hóa học tổng thể. Thực vậy, phân tích đồng vị phóng xạ đối với lipid của Crenarchaeota trong môi trường cho thấy chúng cố định C vô cơ.
Trong nghiên cứu này, Konneke và cộng sự là những người đầu tiên phân lập được vi khuẩn cổ cố định N thuộc ngành Crenarchaeota biển. Chủng này phát triển tự dưỡng hóa năng vô cơ (chemolithoautotrophic) bằng cách oxy hóa hiếu khí ammonia thành nitrite. Trao đổi chất tự dưỡng và tương quan phát sinh loài gần của nó với các trình tự của Crenarchaeota trong môi trường biển chỉ ra rằng Crenarchaeota cố định N ở biển có thể quan trọng với các c hu trình N và C tổng thể.
![]() |
| Crenarchaeota. |
Các tác giả đã phân lập được vi khuẩn cổ oxy hóa ammonia tự dưỡng từ nước biển và cho thấy rằng chúng gần gũi về mặt tiến hóa với Crenarchaeota nhóm 1 ở biển, nhóm được phát hiện trước đây bằng các phương pháp phân tử trong một số môi trường biển. Hơn nữa, chủng oxy hóa ammonia này có các gen tương đồng với gen mã hóa ammonia monooxygenase (enzyme quan trọng cần cho quá trình oxy hóa ammonia) của vi khuẩn. Các gen này trước đây được phát hiện trong genenome của Crenarchaeota ở biển và đất liền nhưng khi chúng cũng tương đồng với gen mã hóa methane monoxygenase của vi khuẩn (có chức năng khác với ammonia monooxygenase), các sinh vật có thể tồn tại.
Nguồn: khoahoc.com.vn 30/8/2006









