Phác đồ mới chẩn đoán và điều trị xơ hóa cơ delta: Sẽ có biến chứng nếu thực hiện không đúng kỹ thuật
Quyết định nêu rõ có bốn bệnh lý có thể gây biến dạng ở vùng vai cần chẩn đoán phân biệt với x ơhóa c ơdelta, đó là: x ương bả vai cao bẩm sinh; loạn d ưỡng c ơDuchenne; loạn d ưỡng c ơtủy; liệt đám rối cánh tay. Do đó, cần chẩn đoán chính xác, sớm dựa vào các triệu chứng: Ng ười bệnh không khép được cánh tay vào sát thân mình ở t ưthế nghỉ ; Hai khuỷu tay khó hoặc không chạm vào nhau khi cánh tay đưa ra tr ước và trong t ưthế khuỷu gấp ; X ương bả vai nhô cao và xoay ngoài (biến dạng bả vai cánh chim); Thấy rãnh lõm da dọc theo dải x ơhoặc sờ rõ dải x ơtrên trục c ơdelta; Những tr ường hợp nặng thấy tình trạng bán sai khớp vai, vai xuôi và có biến dạng vùng l ưng ngực... Và để khẳng định chẩn đoán, cần phải chụp X quang lồng ngực t ưthế thẳng và nghỉ.
Theo h ướng dẫn của Bộ Y tế, những tr ường hợp được phép phẫu thuật là ng ười từ 5 tuổi trở lên, có đủ tiêu chuẩn lâm sàng và xét nghiệm cận lâm sàng; T ưthế dạng vai > 25o và có biểu hiện rối loạn chức năng và thẩm mỹ. Có hai kỹ thuật có thể áp dụng để phẫu thuật x ơhóa c ơDelta (theo vị trí của tổn th ương) là kỹ thuật cắt đứt dải x ơở phía đầu gần sát nguyên ủy của c ơ(áp dụng phổ biến và chỉ định cho những tr ường hợp x ơhóa c ơdelta có sờ thấy rõ thừng x ơở phía đầu gần) và kỹ thuật cắt dải x ơở phía đầu xa của c ơdelta (chỉ định cho những tr ường hợp x ơhóa c ơdelta mức độ nặng và c ơbị x ơhóa lan toả ở nhiều vị trí. Kỹ thuật này chỉ thực hiện ở các c ơsở chuyên khoa chấn th ương chỉnh hình).
Bộ Y tế cũng cảnh báo các tai biến và biến chứng sau mổ có thể xảy ra nếu thực hiện không đúng kỹ thuật. Đó là chảy máu, nhiễm khuẩn, tổn th ương thần kinh mũ; Biến chứng lâu dài (x ơhóa trên diện rộng c ơdelta do cắt phạm nhiều vào tổ chức c ơlành) và sẹo lồi do c ơđịa.
Nguồn: KH&ĐS Số 61 Thứ Hai 31/7/2006








