Phác đồ cải tiến điều trị tiêu chảy trẻ em
Dùng oresol có tỷ trọng thấp
Trong dung dịch Oresol mới, thành phần vả tổng độ thẩm thấu có thay đổi (xem bảng trên).
Dung dịch Oresol cải tiến có ưu điểm là làm giảm tới 33% số trẻ phải truyền dịch, giảm 20% số lượng phân bài tiết, giảm 30% số trẻ bị nôn so với trẻ dùng dung dịch Oresol (cũ) có tỷ trọng cao.
Bổ sung kẽm
Kẽm có vai trò quan trọng trong việc tăng cường chức năng miễn dịch và hồi phục biểu mô ruột. Trong khi đó, phần lớn trẻ em tại các nước đang phát triển, trong đó có nước ta, bình thường đã có tới 30 – 40% thiếu kẽm (theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia). Vì vậy, việc bổ sung kẽm trong khi tiêu chảy lại càng cần thiết.
- Trong điều trị tiêu chảy cấp:Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho thấy: Với trẻ 1 tháng đến 5 tuổi (không phân biệt tuổi và tình trạng dinh dưỡng) dùng kẽm với liều 5 - 45 mg/ ngày đã làm giảm 20% thời gian tiêu chảy, giảm 18 - 59% lượng phân và với liều 10 - 20 mg/ ngày (trong 14 ngày) làm giảm độ nặng và thời gian mắc bệnh so với nhóm trẻ không dùng kẽm.
- Trong tiêu chảy kéo dài:Các nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cho thấy: Nhóm trẻ có dùng kẽm giảm được 24% bị tiêu chảy, giảm 42% tỷ lệ thất bại điều trị hay tử vong so với nhóm không dùng kẽm. Riêng với nhóm dưới 1 tuổi là trẻ trai bị gầy mòn hoặc trẻ có nồng độ kẽm trong huyết tương thấp hơn bình thường thì đáp ứng với kẽm tỏ ra tốt hơn. Nhận xét chung là dùng kẽm sẽ làm giảm thời gian và độ nặng của bệnh tiêu chảy kéo dài.
Thành phần/ tổng độ thẩm thấu | Dung dịch oresol mới (g/l) | Dung dịch Oresol cũ (g/l) |
Nồng độ natri chlorid | 2,6 | 3,5 |
Nồng đụ glucose khan | 13,5 | 20 |
Nồng độ kali chlorid | 1,5 | 1,5 |
Nồng độ natri citrat khan | 2,9 | 2,9 |
Tổng độ thẩm thấu của dung dịch (tính bằng mOsm/l) | 245 | 311 |
Ngoài việc dùng kẽm trong điều trị, trong dự phòng, tỷ lệ tiêu chảy của nhóm trẻ bổ sung đủ kẽm giảm khoảng 18% so với nhóm trẻ không bổ sung đủ kẽm.
Dùng kẽm sunfat, kẽm acetat hay kẽm gluconat đều cho kết quả như nhau. Khi dùng, cần tính toán qui ra kẽm: như 1 viên chứa 200 mg kẽm sulfat tương đương với 45mg kẽm; 1 ống (10ml) chứa 77,6 mg kẽm gluconat tương ứng với 10mg kẽm.
Dùng các thuốc chống tiêu chảy
Thuốc có nguồn gốc từ vi khuẩn hoặc nấm men
- Lactobacillus acidophilus: chế từ vi khuẩn Lactobacillus acidophilusđông khô. Nhờ axit lactic và các chất kháng sinh (chưa rõ công thức) tiết ra từ vi khuẩn mà chế phẩm sẽ lập lại cân bằng hệ vi khuẩn, ruột, chống loại khuẩn ruột, kích thích tăng sản xuất IgA, phuc hồi khả năng hấp thu của niêm mạc ruột.
- Bacillus clausii: hỗn hợp chứa các bào tử Bacillus clausii, khôi phục lại cân bằng hệ vi khuẩn ruột, chống loạn khuẩn, đồng thời sản xuất một số vitamin nhóm B, đối kháng và khử độc với các tác nhân gây tiêu chảy.
- Saccharomyces boulardii: chế từ tế bào nấm men Saccharomyces boulardii đông khô. Tác dụng ngăn chặn sự phát triển của vi khuẩn và nấm Candida, đối kháng với độc tố các vi khuẩn (như Vibrio Cholerae, Clostridium dificile) kích thích tăng sản xuất IgA, phục hồi khả năng hấp thu của niêm mạc ruột.
Thuốc bảo vệ niêm mạc đường tiêu hoá
Thuốc có cấu trúc xốp và có độ nhớt cao, tương tác với glycoprotein của dịch nhầy, bảo vệ niêm mạc ruột khi bị các vi khuẩn tấn công.
Việc áp dụng liệu trình
Các thuốc dùng trong phác đồ mới đều có ở nước ta. Riêng Oresol, từ công thức cũ có thể chuyển sang công thức mới không có khó khăn gì lớn về mặt kỹ thuật đối với các doanh nghiệp sản xuất dược của nước ta.








