Petrovirus và HIV
- Oncovirinaelà virus có khả năng gây ung bướu, loại gây bệnh cho người là HTLV-1 và HTLV-2 (Human T lymphotropic virus) gây ung thư bạch cầu loại tế bào lypho T.
- Spumavirusđược phát hiện ở một số loài động vật nhưng không gây bệnh.
- Lentiviruslà tên có nguồn gốc từ hiện tượng gây bệnh chậm sau khi xâm nhập cơ thể (lent: chậm), trong đó có HIV -1 và HIV -2 gây suy giảm miễn dịch ở người.
Hiện nay, Retroviridaeđược quan tâm đặc biệt vì phần lõi (génome) của virus có khả năng gắn vào lõi của tế bào thông qua AND trung gian. Trong gen trị liệu, có thể dùng virus này làm vectơ đưa gen không bệnh vào thay thế, sửa chữa gen bệnh của tế bào cơ thể.
HIV (Human Insuffisance Virus) là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch ở người. HIV có dạng hình cầu, kích thước rất nhỏ (100 – 120nm), không nhìn thấy được bằng kính hiển vi thông thường mà phải dùng kính hiển vi điện tử có độ phóng đại hàng chục ngàn lần. Virus chỉ có thể tăng trưởng và sinh sản bên trong tế bào sống, HIV có ái tính đặc biệt với các tế bào của hệ thống miễn dịch: lympho T giúp đỡ (T4), đại thực bào, tế bào đơn nhân và một số tế bào thần kinh, da và niêm mạc, hạch lympho… nên khi xâm nhập cơ thể, chúng liền bám dính vào màng tế bào rồi bắt đầu xâm nhập vào trong, chúng “cướp quyền chỉ huy” và dùng các cấu trúc sẵn có của tế bào như phương tiện để sản xuất ra nhiều HIV khác, cho đến khi tế bào bị hư hoàn toàn và chết đi, lúc đó sẽ phóng thích những siêu vi mới sinh sản; các HIV này lại chui vào những tế bào khác phá hoại tiếp, cứ dần dần như thế, hệ miễn dịch bị tiêu diệt lần hồi, cuối cùng suy kiệt, không còn đủ sức chống lại tác nhân gây bệnh xâm nhập, gọi là giai đoạn AIDS và người bệnh sẽ chết ở giai đoạn này.
Hiện nay, nhiễm HIV được chia làm 5 thời kỳ:
- Thời kỳ cửa sổ hay sơ nhiễm: thời kỳ này rất dễ lây lan cho người khác vì số lượng virus trong máu rất cao, nhưng chưa có kháng thể. Người bệnh thường bị sốt, viêm họng, nổi hạch, nhức đầu, khó chịu, phát ban; do không có triệu chứng đặc hiệu nên thầy thuốc thường hay chuẩn đoán chung là nhiễm siêu vi. Vì vậy, nếu sau khi quan hệ tình dục không an toàn (hay một sự cố nào gây nghi ngờ nhiễm HIV), nạn nhân cần xét nghiệm máu (kỹ thuật PCR) tìm ARN của HIV. Kháng thể kháng HIV xuất hiện trong máu muộn hơn, sau 6 tuần (thông thường là 3 tháng) mới xét nghiệm tìm kháng thể.
- Thời kỳ nhiễm không triệu chứng: số lượng tế bào T4 giảm, nhưng lượng T4 không giống nhau ở mỗi người và sự giảm lượng T4 cũng không tỷ lệ thuận với mức độ nặng của bệnh. Lượng kháng nguyên tăng lên phản ánh sự nhân lên của virus mà hệ thống miễn dịch của cơ thể không khống chế được.
- Thời kỳ nhiễm có triệu chứng, giai đoạn sớm. Việc chuyển giai đoạn thể hiện qua các triệu chứng: sốt, vã mồ hôi về đêm, tiêu chảy mãn (do HIV xâm nhập tế bào ở niêm mạc ruột), nổi hạch và đau đầu. Có thể sarcome Kaposixuất hiện sớm. Bắt đầu mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội như: nhiễm nấm Candida albicansở niêm mạc miệng, nhiễm khuẩn hô hấp, viêm nha chu.
- Thời kỳ nhiễm có triệu chứng, giai đoạn muộn: Số lượng tế bào T4 càng giảm thì khả năng mắc bệnh cơ hội càng tăng. Khi T4 còn 200 tế bào/ ml máu thì dễ bị viêm phổi và viêm màng não do Toxoplasma gondii,khi còn 100 tế bào/ ml thì dễ bị nhiễm nhiều loại: Mycobacterium tuberculosis,nấm Candida albicansở thực quản, viêm phổi do Herpers virus.
- Nhiễm HIV giai đoạn tiến triển: lượng tế bào T4 chỉ còn 50/ml, cơ thể mất hoàn toàn khả năng đề kháng, xuất hiện tất cả các loại nhiễm trùng cơ hội.
Các biểu hiện của AIDSbao gồm: nhiễm trùng cơ hội, suy kiệt cơ thể, sarcome Kaposi, u lympho, bệnh về não, viêm chất trắng, viêm phổi kẽ mô lympho.
Hoá trị liệu
![]() |
Các thuốc dùng cho người nhiễm HIV được xếp theo cơ chế tác dụng:
- Thuốc ức chế enzyme phiên mã ngược gồm có: Zidovudin(ZDV) tên cũ là azidotimidin(AZT), làm giảm lượng HIV trong máu, thường dùng cho thai phụ, trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV từ mẹ. Sử dụng lâu dài cho hiệu quả thấp vì HIV đã kháng với ZDV. Phản ứng phụ xuất hiện ở 40% bệnh nhân, gồm có xuất huyết, giảm bạch cầu trung tính. Zalcitabin(ddC) được dùng khi bệnh nhân đã bị kháng với AZT hay dị ứng với AZT, có thể phản ứng phụ nghiêm trọng như viêm trục thần kinh ngoại biên (giác quan và vận động), viêm tuỵ. Ngoài ra còn có Didanozin, Stavudin, Nevirapin.
- Thuốc ức chế protease.
- Thuốc tương tác với protein điều hoà của HIV.
Việc phối hợp các thuốc có cơ chế tác dụng khác nhau nhằm ngăn chận tình trạng kháng thuốc. Ngoài ra, việc dùng thuốc ngừa bội nhiễm cũng rất quan trọng trong điều trị HIV/ AIDS.
Hiện nay tại Việt Nam, việc điều trị HIV hoàn toàn miễn phí, những người đã có hành vi nguy cơ, nghi ngờ bị nhiễm HIV nên đến các Trung tâm tham vấn xét nghiệm miễn phí tự nguyện để được tư vấn và xét nghiệm, điều trị dự phòng phơi nhiễm. Nếu chẳng may bạn đã bị nhiễm HIV thì nên tham gia các tổ chức sinh hoạt dành cho người nhiễm, bạn sẽ được khám sức khoẻ định kỳ, điều trị sớm các bệnh cơ hội và điều trị HIV khi phù hợp với điều kiện về chỉ số sức khoẻ.









