Nước giải khát chế từ dược thảo
Cho nên việc chế biến nước giải khát từ dược thảo rất được quan tâm. Thực tế lâu đời cho thấy lợi ích thiết thực và sự ưa chuộng của quần chúng đối với các loại nước giải khát này.
Nước giải khát dược thảo có thể chế từ lá, hoa, quả, hạt hoặc từ thân rễ của nhiều loại cây cỏ khác nhau. Cách chế biến cũng khác nhau tuỳ loại như: nước ép (xay) dùng sống hoặc nấu chín, nấu nước để uống hoặc rang chín trước khi nấu nước...
Sau đây là một số cây cỏ vừa làm thực phẩm, vừa làm thuốc, được chế biến thành nước giải khát thường gặp:
1) Rau má: còn gọi là tích tuyết thảo, liên tiền thảo, xuyên tường thảo. Tên khoa học Centella asiatica (L.) Urb., thuộc họ Hoa tán (Apiaceao). Toàn cây có chứa tinh dầu, dầu béo, chất đắng vellarin, alcaloid hydrocotylin, glucosid asiaticosid, vitamin C, caroten, các muối khoáng Ca, P, 100g rau má cung cấp cho cơ thể 21 calo. Theo Đông y, rau má có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, giải độc. Được dùng chữa sốt, chảy máu cam, tiểu buốt, mụn nhọt, rôm sảy, thống kinh, bạch đới, ho, giãn tĩnh mạch, làm lợi sữa cho sản phụ và tăng cường chức năng giải độc của gan. Ngày dùng 30-50g rau má tươi, rửa thật sạch rồi giã nát hoặc xay nhuyễn, vắt lấy nước pha với nước đường hoặc nước dừa để uống; có thể sắc lấy nước để uống thay nước trà hàng ngày. Cần lưu ý đảm bảo vệ sinh khi chế biến nước rau má: nguồn rau, nước sử dụng và dụng cụ chế biến phải sạch sẽ, đúng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm. 2) Đậu ván trắng: còn có tên bạch biển đậu, đậu biển. Tên khoa học Lablab Purpureus (L.) sweet subsp. Purpureus, thuộc họ Đậu (Fabaceade). Loại thường được trồng là đậu ván leo giàn hoặc leo trên hàng rào quanh nhà. Người ta lấy quả non làm thức ăn như một loại rau vì có ít chất xơ; hạt đậu già dùng nấu chè, làm bánh, chế biến nước giải khát, làm thuốc và làm tương như đậu nành. Trong hạt đậu ván có chứa protein 23,3%, lipit 0,6%, glucid 32,1%, cellulose 3,8% , các axit amin: tryptophan, arginin, tyrosin, lyzin, men tyrosinaza, các chất khoáng Ca 0,048%, P 0,052%, Fe 0,001%; các vitamin A, B2, C và nhiều vitamin B1. Ngoài ra, còn có axit cyanhydric, axit pipecolic và phytoagglutinin. Theo Đông y, đậu ván trắng là một loại thuốc bổ, có vị ngọt, tính bình, không độc, tác dụng hoà ngũ tạng, kiện tỳ, trừ phong, trừ cảm nắng, chữa hoắc loạn (tiêu chảy), ẩu thổ, ăn vào mửa ra, còn có tác dụng tiêu độc (Tuệ Tĩnh - Nam dược thần hiệu). Người ta còn dùng đậu ván để chữa viêm ruột, đau bụng, ngộ độc do ăn uống như ăn nhằm các loại cá nóc, thạch tín hoặc ngộ độc rượu (Viện Dược liệu - Cây thuốc Việt Nam). Khi sử dụng lấy hạt đậu ván già đem phơi hay sấy khô, rang vàng để nấu nước uống giải khát vào mùa nắng nóng. Một gia đình 4-5 người chỉ cần dùng 100g đậu ván rang vàng nấu với 4-5 lít nước là sẽ có một món giải khát bổ dưỡng, an toàn và ngon miệng.
3) Sắn dây: còn gọi là cát căn, bạch cát, sắn com. Tên khoa học Pueraria thomsonii Benth., thuộc họ Đậu (Fabaceae). Cây mọc hoang và được trồng khắp nơi trong nước để lấy củ làm thực phẩm, làm bột và làm thuốc. Săn dây phát triển tốt ở những vùng đất thịt pha cát, xốp, nhiều mùn. Rễ củ thường được thu hái vào mùa đông xuân. Đem về rửa sạch đất cát rồi xắn từng lát mỏng, phơi hoặc sấy khô để dùng dần. Trong các hiệu thuốc Đông y, sắn dây còn có tên là cát căn (sắn dây khô). Người ta còn chế biến thành bột để sử dụng. Trong sắn dây có chứa saponosid, isoflavon, puerarin, daidzin, daidzein, tinh bột (12-15% trong củ rễ tươi, 40% trong củ rễ khô). Trong lá có các axit amin: asparagin, adenin. Theo Đông y, sắn dây có vị ngọt, khí hàn, tính hay phát tán, tác dụng giãn cơ, làm mát da thịt, trừ phiến nhiệt, thông đại tiểu tiện, làm ra mồ hôi, giải độc. Thường dùng chữa tiêu khát, cơ thể nóng nực, nôn mửa, ngực bụng nóng bức muốn phát cuồng, lỵ ra máu, thông lợi tiểu trường và giải độc rượu. Ngoài ra còn chữa mụn nhọt, phòng ngừa các loại rôm sảy phát sinh do thời tiết nóng bức. Sắn dây có thể dùng sống bằng các gọt bỏ vỏ ngoài, rửa thật sạch rồi giã nát (củ tươi), vắt nước để uống, hoặc dùng bột sống hoà với nước nguội để uống. Nếu dùng chín thì nấu lấy nước để uống hoặc dùng bột sắn dây hoà với nước sôi để dùng. Sắn dây rất được các dân tộc Á Đông ưa chuộng và sử dụng từ rất lâu đời. Người Nhật Bản gọi sắn dây là koudzou, một loại thực phẩm có nhiều dương tính và có tác dụng chữa trị một số rối loạn ở dạ dày và ruột. Người Trung Quốc thường dùng sắn dây hợp cùng hoa Hoè trong một thang thuốc nấu làm nước giải khát, gọi là cát hoa thang (sắn dây 80-100g, hoa hoè 10-16g). Dùng bài thuốc này nấu uống hàng ngày sẽ giúp giải độc rượu có hiệu quả, phòng ngừa được các loại viêm nhiễm ngoài da như mụn nhọt làm độc,ghẻ ngứa, rôm sảy, chảy máu cam. 4) Dừa: còn gọi là Da tử. Tên khoa học Cocos nucifera L., thuộc họ Cau (Arecaceae). Cây dừa được trồng và sử dụng từ lâu đời, phổ biến ở các vùng Trung, Nam Mỹ, Đông Nam Á và Tây Phi. Ở Việt Nam, dừa có nhiều ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ. Trong nước dừa có chứa glucose, fructose, rất ít saccharose, các axit amin, axit béo, axit malic, vitamin C. Trong cùi dừa non có gluxit, protit, lipit, axit oleic, axit palmatic, axit lauric, axit butyric và caproic, còn có một lượng nhỏ vitamin D. Theo Đông y, nước dừa có vị ngọt, tính bình, không độc, tác dụng khử phong, ích khí, tiêu phù thũng, trị hoắc loạn, chữa đàm tích và đầy bụng (Tuệ Tĩnh – Nam dược thần hiệu). Người ta thường dùng nước dừa và cùi dừa non để làm nước giải khát bổ dưỡng và hợp vệ sinh, lại giúp cơ thể giải nhiệt và giải các chất độc qua đường tiết niệu. 5) Mía: còn gọi là cam giá. Tên khoa học Saccharum officinarumL., thuộc họ Lúa (Poacêa). Có nguồn gốc ở Ấn Độ, được trồng rộng rãi nhiều nơi trên thế giới để làm đường. Nước ép từ thân cây mía là một loại giải khát quen thuộc, có hương vị thơm ngon. Trong nước mía có chứa đường saccharose (10-20%), gluco, axit citric, axit malic, axit tartaric... Theo Đông y, nước mía có vị ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải khát, tiêu trừ mệt mỏi, trợ tiêu hoá, giải độc, chữa phụ nữ có thai bị nôn mửa, khô miệng, đau dạ dày, đại tiện khô kết, ngoài ra còn nhuận tâm phế và điều hoà can khí. Nhà thơ đời Đường là Vương Duy (701-761) từng viết: “Bão thực bất tu sầu nội nhiệt. Đại quan hàn hữu giá tương hàn” (Ăn no xin chớ lo nội nhiệt. Quan lớn hãy còn nước mía hàn). Đời nhà Thanh, danh y Vương Sĩ Hùng (1808-1868) có viết về mía trong sách Tuỳ đức cư ẩm thực phổ như sau: “Mía ngọt mát, thanh nhiệt, điều hoà chức năng dạ dày, nhuận tràng, giã rượu, hạn chế giun đũa, làm tan đàm, tăng chất dịch, chữa sốt cao, kiết lỵ do nóng trong, trị ho do nhiệt, ợ hơi, lợi cho hầu họng, mạnh gân cốt, trừ phong, dưỡng huyết, đại bổ tỳ âm”. Như vậy, nước mía là loại giải khát rất bổ dưỡng mà lại ít tốn kém. Tuy nhiên, cần phải bảo đảm yêu cầu vệ sinh trong khi chế biến để tránh các yếu tố có hại cho cơ thể. 6) Đậu nành: còn gọi là đậu tương, hoàng đậu, đại đậu. Tên khoa học Glycine soja Siebold et Zucc., (Glycine max (L.) Merr.), thuộc họ đậu (Fabaceae). Đậu nành được trồng phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới để làm thực phẩm và làm thuốc. Người ta thu hoạch hạt đậu nành đủ các tiêu chuẩn cần thiết, phơi hoặc sấy khô để dùng. Ở Việt Nam, cây đậu nành ra hoa tháng 6-7 và cho quả tháng 7-9. Trong hạt đậu nành có chứa (theo tỷ lệ %): protit 40, lipit 12-25, gluxit 10-15, các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S; các vitamin A, B1, B2, D, E, F, các men, sáp, nhựa, cellulose. Trong đậu nành có đủ các loại axit amin cơ bản như: isoleucin, leucin, lysin, metionin, phenylalanin, tryptophan, valin. Theo Đông y, đậu nành có vị ngọt, nhạt, tính bình, tác dụng kiện tỳ, nhuận táo, lợi tiểu, khử phong, tán nhiệt, hoạt huyết, giải độc, thường dùng để bồi bổ chữa cơ thể suy nhược, đại tiện táo bón, tiểu tiện khó, phù thũng, rối loạn chức năng dạ dày - ruột, đái tháo đường, cao huyết áp, ngoại thương xuất huyết, thiếu máu thiếu sắt, đau tim. Do đậu nành có thành phần dinh dưỡng cao nên thường được chế biến thành nhiều loại thực phẩm như tương, đậu hũ, xì dầu, sữa đậu nành, yaout đậu nành... Hiện nay, các nhà khoa học phát hiện trong protein đậu nành có chất isoflavon giúp tăng thêm calcium và các chất protein cho tổ chức xương, chống tình trạng loãng xương. Đậu nành cũng được nghiên cứu để phòng trị ung thư vú ở phụ nữ và chứng thừa cholesterol ở đàn ông. Sữa đậu nành là một loại nước giải khát rất bổ dưỡng lại có công dụng trị liệu nhiều chứng bệnh. Do đó, hiện nay sữa đậu nành được sản xuất theo quy trình công nghệ để phục vụ rộng rãi cho người tiêu dùng. Ngoài ra, bột đậu nành trộn với bột ngũ cốc dùng làm bột dinh dưỡng có giá trị cho trẻ em. Nguồn: T/c Đông y, số 328 (25/8/2001), tr 15
|

1) Rau má: còn gọi là tích tuyết thảo, liên tiền thảo, xuyên tường thảo. Tên khoa học Centella asiatica (L.) Urb., thuộc họ Hoa tán (Apiaceao). Toàn cây có chứa tinh dầu, dầu béo, chất đắng vellarin, alcaloid hydrocotylin, glucosid asiaticosid, vitamin C, caroten, các muối khoáng Ca, P, 100g rau má cung cấp cho cơ thể 21 calo.
3) Sắn dây: còn gọi là cát căn, bạch cát, sắn com. Tên khoa học Pueraria thomsonii Benth., thuộc họ Đậu (Fabaceae). 






