Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 15/07/2008 23:43 (GMT+7)

Nông thôn, nông dân từ góc nhìn sở hữu

Bài viết dưới đây góp vài thiển ý nhằm giúp nông dân có thêm tiếng nói trong các chính sách công.

Muốn dân không mất ruộng, phải xem lại chế độ sở hữu áp dụng đối với ruộng đất của nông dân. Muốn dân không chán ruộng, phải xem lại các chính sách tác động tới nông sản nhằm giúp nông dân được lợi. Có vẻ như một hạt thóc mang lại nhiều lời hơn cho người giữ độc quyền buôn bán giống, phân bón hay kênh xuất nhập khẩu gạo hơn là chút lợi rơi sót lại cho người nông dân. Muốn dân không chán quê, phải xem lại ai được lợi từ chi dùng tài chính công. Một khi điện, đường, trường, trạm, y tế, cây xanh, điện thoại cho tới truyền hình cáp ở đô thị đều sẵn, tốt và rẻ hơn ở nông thôn, thật chẳng ngạc nhiên khi phố chật chội với lao động nhập cư, trong khi thôn quê dần trở nên heo hút với người già và con trẻ.

Nông dân mất ruộng

Tại sao việc giao đất cho các ông chủ tư bản (trong và nước ngoài) đều có thể dài tới 50 năm, trong khi đó ruộng đất giao cho nông dân canh tác bị giới hạn 20 năm.

Có vẻ như khẩu hiệu “ dân cày có ruộng” nhiều thời đã lôi cuốn được nông dân đi theo vô số cuộc cách mạng. Thì vẫn thế, quyền tài sản tư nhân của nông dân vẫn bỏng giãy thời nay. Chỉ có điều trước những ánh mắt thèm khát tài nguyên của các ông chủ tư bản và sự im lặng của người có quyền, đôi khi người ta lảng tránh bàn về đề tài này. Song càng lảng tránh, đơn thư khiếu nại nhà đất càng chồng chất. Hơn 80% trong số gần 2 vạn đơn thư khiếu nại của cử tri gửi tới các cơ quan và đại biểu dân cử có nội dung liên quan đến quyền tài sản nhà đất của người dân. Tranh kiện liên quan đến nhà đất, đền bù, giải tỏa khi chuyển đổi đất ruộng thành đất kinh doanh là mầm mống cho vô số vụ “khiếu kiện tập thể” lan dần từ thôn quê lên thành thị. Chẳng cần tốn kém điều tra, chỉ tắt máy điều hòa, mở cửa sổ và nhìn ra cái oi bức của xứ nhiệt đới, quan chức nước ta sẽ cảm nhận được cái nóng từ quyền sở hữu ruộng đất đôi khi áp sát cổng chính quyền.
Để diễn biến hòa bình thành một xứ công nghiệp vào năm 2020, không thể im lặng mãi trước vấn đề quyền tài sản của nông dân đối với ruộng đất. Ngược lại muốn bảo vệ nông dân, Nhà nước phải bảo vệ quyền tài sản tư của họ, giúp họ tự do hưởng dụng quyền ấy phù hợp với quy hoạch quốc gia và địa phương. Tại sao việc giao đất cho các ông chủ tư bản (trong và nước ngoài) đều có thể dài tới 50 năm, trong khi đó ruộng đất giao cho nông dân canh tác bị giới hạn 20 năm. Tại sao ông chủ tư nhân có hầu hết các quyền sở hữu trên đất đã được giao (tùy nghi khai thác, hưởng dụng, chuyển bán, thế chấp); trong khi nông dân chỉ có quyền trồng cấy và thu lượm hoa lợi, thậm chí bị hạn định rõ là cây trồng hằng năm hay lưu niên.

 Muốn thành thực với nông dân không thể né tránh một cuộc cách tân đến tận gốc rễ, đó là minh định quyền tài sản của người nông dân Việt Nam đối với ruộng đất.

Đất trở thành vàng, khi ruộng muống biến thành đất ở, đất kinh doanh. Chỉ tiếc rằng, khi ấy ruộng đất bị “ thu hồi”, người nông dân canh tác bị “ giải tỏa” và được đền bù “ theo quy định của pháp luật”. Chỉ riêng cách dùng từ ngữ và thái độ của người làm luật đã cho thấy nông dân không được xem là ông chủ số tài sản có được từ nhiều đời cha ông của họ; ruộng đất của họ có thể bị dễ dàng tước đi vì các dự án sân golf, khu công nghiệp. Các ông chủ đích thực chính là những người có quyền lực lập dự án và hô biến ruộng lúa thành sân golf.

Vì lẽ ấy, muốn thành thực với nông dân không thể né tránh một cuộc cách tân đến tận gốc rễ, đó là minh định quyền tài sản của người nông dân Việt Nam đối với ruộng đất. Đối với đất canh tác đã được chia, được giao, được người dân tự khẩn hoang, Nhà nước phải cho một thời hạn để họ tự đăng ký và long trọng tuyên bố quyền sở hữu bất khả xâm phạm của họ. Quyền tài sản ấy không bị giới hạn về thời gian, người dân tùy nghi canh tác, nhượng đổi phù hợp với quy hoạch của chính quyền, tùy nghi bán lại cho các ông chủ tư bản theo giá thỏa thuận hoặc góp vốn kinh doanh như cổ phần trong các công ty. Các ông chủ tịch tỉnh chỉ có quyền xây dựng quy hoạch, không thể có quyền thu hồi đất của nông dân giao cho các dự án, trừ khi Nhà nước bỏ tiền mua lại đất của nông dân vì các mục đích công cộng theo nguyên tắc thỏa thuận dựa trên giá đất của thị trường. Đất đai của toàn dân thì Nhà nước trả lại cho người dân cũng là một lẽ đương nhiên. Nói cách khác, phải thay đổi cách nhìn về sở hữu toàn dân, tăng quyền tài sản tư đối với ruộng đất cho các gia đình nông dân, tôn trọng và nêu rõ thái độ của Nhà nước sẽ bảo vệ sở hữu của họ khi cần thiết. Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 2003 cần được viết lại vì quyền lợi của nông dân.

Khác với động sản, đất không thể di dời, ngày càng có giá nếu được đầu tư cơ sở hạ tầng tiện cho dân sinh, ngày càng mất giá nếu môi trường sống suy thoái. Bởi lẽ đó, kể cả khi ruộng đất đã là của tư, bằng chính sách quy hoạch và đầu tư công, chính quyền dư sức làm tăng hay giảm một cách đáng kể giá trị của đất. Không chỉ đòi quyền tài sản, muốn bảo vệ sản hữu của mình, nông dân phải được tổ chức để can dự vào các chính sách công, ví dụ như tham gia vào quá trình quy hoạch địa phương, quy hoạch vùng và các dự án hạ tầng. Công khai quy hoạch, tạo cơ hội cho các nhóm lợi ích phản biện chính sách, tạo cơ hội cho cơ quan dân cử đại diện khách quan cho lợi ích các nhóm cử tri, xây dựng các thiết chế giải quyết bất đồng về lợi ích, có lẽ với nhiều cách ấy hy vọng sự tham gia của nông dân trong quy hoạch địa phương mới có thể xuất hiện.

Nông dân chán ruộng

Nông dân chỉ bám ruộng khi nông sản được giá, nông sản chỉ có giá khi được người mua tin dùng, cái vốn xã hội lớn lao dành cho nông sản Việt Nam chỉ có thể tạo ra với một thái độ rõ rệt của Nhà nước.

Vừa mất ruộng, vừa chán ruộng có thể sẽ là một xu thế khó tránh khỏi mà người nông dân nước ta chắc chắn còn phải trải nghiệm ít nhất trong vài thập kỷ nữa. Làm ruộng thời thị trường cũng tựa kinh doanh, khôn sống mống chết, cuộc ganh đua tự nhiên sẽ dồn đẩy người nông dân theo nhiều thái cực, trong đó chắc sẽ có những người có năng lực quy tụ tài nguyên đất đai và nguồn lực con người, tổ chức kinh doanh nông nghiệp một cách hiệu quả trên quy mô rộng hơn. Những người còn lại có thể bị bần cùng hóa, trở thành vô sản, tìm kiếm cơ hội bằng cách bán sức lao động của mình. Tôi e rằng Nhà nước khó có thể làm thay hay ngăn cản thị trường; chính sách hạn điền chỉ có thể làm chậm lại hoặc biến dạng sự xuất hiện của các địa chủ mới.

Theo một tư duy thị trường, người có năng lực phải được ban thưởng cho những nỗ lực của mình, tích tụ ruộng đất chắc phải là một nền tảng cho một nền nông nghiệp mang tính cạnh tranh. Khuyếnkhích và bảo hộ những sự tích lũy tự nhiên đó, đồng thời với những chính sách khuyến khích doanh nghiệp kinh doanh chế biến nông sản, liên kết chuyển giao công nghệ cho nhà nông, hạn chế độc quyềncung cấp nguyên liệu cho nông nghiệp và tiêu thụ sản phẩm, nhà nước cần có một thái độ rõ rệt trong khuyến khích cạnh tranh. Có vẻ như việc tổ chức thu mua, xuất khẩu gạo còn hàm chứa vô số độcquyền; những độc quyền ấy thường ít mang lại lợi ích cho nông dân.

Đã chấp nhận gia nhập WTO với những cam kết không bảo hộ đáng kể gì cho nông sản Việt Nam, điều còn lại mà Nhà nước phải làm là vận dụng được tất cả những cơ hội mà luật lệ khắt khe của WTO cho phép để hỗ trợ cho người sản xuất nông nghiệp. Phần từ hạt gạo xuất khẩu dành cho nông dân có đủ lớn mới giữ được họ ở lại với ruộng đồng. Phần ấy có từ việc hạn chế độc quyền xuất nhập khẩu, hạn chế trung gian, song phần ấy cũng có thể khéo léo được tạo ra dưới đủ loại hình thức hỗ trợ mà quốc gia nào cũng hỗ trợ cho nông dân của mình, ví dụ dưới dạng các tài trợ hợp pháp cho thủy lợi, giống, phòng trừ sâu bệnh, hỗ trợ kỹ thuật.

Thêm một điều mà nhà nước đáng ra phải làm đó là khéo léo nâng cao thái độ trân trọng nông sản Việt Nam trong nhận thức và thói quen của dân chúng. Gọi là khéo léo bởi dưới ánh mắt soi mói của các nhà tư bản nước ngoài bất kỳ hành vi phân biệt đối xử nào cũng có thể dẫn đến nhiều hệ lụy. Nhìn người Hàn rầm rộ biểu tình chống thịt bò Mỹ chợt thấy lo khi dân tộc không biết cách phản ứng trước gạo mốc hay nội tạng bảo quản bằng chất hại người được luồn về từ Phương Bắc. Nông dân chỉ bám ruộng khi nông sản được giá, nông sản chỉ có giá khi được người mua tin dùng, cái vốn xã hội lớn lao dành cho nông sản Việt Nam chỉ có thể tạo ra với một thái độ rõ rệt của Nhà nước.

Nông dân chán chốn thôn quê

Không ai muốn và có lẽ cũng chẳng ai có thể chối bỏ quê hương, song nếu mức sống đô thị và nông thôn quá xa khác thì nước ta còn chứng kiến những cuộc di dân to lớn hơn nữa hướng ra phố. Điều này phá nát đô thị và cũng xô đổ văn hóa nông thôn. Việc điều tiết lớn lao này không thể do thị trường, đó phải là trách nhiệm của Nhà nước, càng bắt đầu muộn càng thêm tốn kém và bất lực.

 Muốn làm cho cuộc sống nơi thôn quê tiện ích chẳng kém nơi đô thị, cần có một cuộc kiểm định lại tác động của chi dùng tài chính công đối với khu vực nông thôn và xây dựng các chính sách điều tiết phù hợp.

Chính sách công có một tác động rất lớn có thể lèo lái tâm lý dân chúng, giúp họ vì những lợi ích cá nhân mà ở lại với nông thôn. Có người ta bảo nếu Nhà nước chi 10 đồng cho y tế, thì đến 8 đồng chỉ có lợi cho khu vực đô thị, chỉ còn hai đồng rơi xuống y tế xã, y tế cộng đồng, các trung tâm cấp huyện và địa phương. Thì cũng thế đối với chi tiêu giao thông công cộng, giáo dục, điện nước và các hạng mục ngân sách khác, có vẻ như Nhà nước càng tăng chi thì đôi khi người ở phố và người giàu càng được lợi.

Vì lẽ ấy, muốn làm cho cuộc sống nơi thôn quê tiện ích chẳng kém nơi đô thị, cần có một cuộc kiểm định lại tác động của chi dùng tài chính công đối với khu vực nông thôn và xây dựng các chính sách điều tiết phù hợp. Chẳng hạn, nếu thu nhập cho công chức, viên chức nhận nhiệm sở ở đô thị hay thôn quê, ở trung ương hay địa phương cùng một ngạch là cùng một chế độ thù lao thì các địa phương cũng đỡ than phiền về nguồn nhân lực. Tương tự như vậy, nếu khuyến khích trúng và thỏa đáng, các nhà kinh doanh hạ tầng (như điện, nước, truyền thông) mới có động lực để vươn tới nông thôn. Nếu mở rộng tranh luận, người dân sẽ có đủ muôn ngàn kế giúp phát triển nông thôn. Chỉ riêng chi tiêu ngân sách cho các bộ ngành, chẳng hạn nếu Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được đặt tại vựa lúa Cửu Long, Tổng cục du lịch điều hành toàn ngành từ Quảng Ninh hay Bộ LĐ-TB-XH được đặt tại những miền quê Nam Định dư thừa lao động, tôi tin rằng nguồn kinh phí quốc gia sẽ không quá dồn vào những đô thị trọng tâm mà lan tỏa ra rất nhiều vùng. Điều quan trọng đối với chính quyền, vì lẽ ấy, là năng lực lắng nghe và lựa chọn các giải pháp để từng đồng thuế của dân được phân bổ hợp lý nhất, cho hôm nay và cho những ngày sau.

Nguồn: T/c tia sáng, 7/2008

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.