Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 30/11/2009 17:54 (GMT+7)

Nông thôn Nam Bộ – Những vấn đề của hôm nay

Từ 1986 rồi 1992, sự phát triển của nông thôn Nam Bộ đã từng bước được đặt trở lại vào dòng chảy truyền thống của nó, tức trên cơ sở nền sản xuất hàng hóa đã định hình từ trước 1945. Nhưng những hậu quả của ba mươi năm chiến tranh từ 1945, rồi mười năm bao cấp sau 1975 chỉ mới được khắc phục một cách tạm thời và chưa triệt để. Những xáo trộn về quyền sở hữu ruộng đất trong quá khứ còn chưa được điều chỉnh và giải quyết thỏa đáng, thì vùng đất này lại mau chóng bị hút vào một quá trình phân bố lại ruộng đất - thay đổi quyền sở hữu mới gây ra những mâu thuẫn và bi kịch có khi trong từng gia đình, gia tộc, làm nứt rạn những cột trụ lâu đời và thiêng liêng nhất trong quan hệ xã hội truyền thống ở nông thôn. Trong khi đó kinh tế thị trường được từng bước phục hồi cũng không ngừng từng bước phát huy tác dụng một cách từ từ mà chắc chắn của nó trên phương diện này: đến khoảng 1996, 1997 nông thôn nhiều địa phương vùng Tây Nam Bộ đã xuất hiện tình trạng các hộ nông dân nghèo mất ruộng hàng loạt. Nhưng đó chỉ mới là khúc dạo đầu, vì đến nay tình hình đã trở nên căng thẳng hơn: ngoài nhu cầu sử dụng đất vào mục đích mới của chính quyền (mở mang đường sá, xây dựng cơ sở công ích...) và nhu cầu đất của các nhà đầu tư góp phần làm giảm diện tích canh tác, ở đây đã thực sự xuất hiện quá trình tích tụ - tập trung ruộng đất, một quá trình xem ra sẽ phủ định cả khả năng thực thi lẫn hiệu quả thực tế của chính sách hạn điền. Tuy nhiên ở đây có một vấn đề về quan điểm phát triển nông thôn nói chung và nông nghiệp nói riêng cần được đặt ra.

Việt Nam đang trong quá trình hiện đại hóa nền sản xuất vật chất, trong đó nổi bật là chuyển đổi – tái cấu trúc cơ cấu kinh tế, và là ngành sản xuất thu hút nhiềulao động nhất trong quốc gia, nông nghiệp Việt Nam dĩ nhiên phải chịu tác động to lớn và toàn diện của quá trình chuyển đổi ấy, trong đó có việc chiếm hữu – sử dụng ruộng đất. Nhìn chung ở đây tấtyếu phải diễn ra một quá trình tập trung ruộng đất tức hình thành cơ cấu kinh tế mới làm tiền đề cho việc phát triển sức sản xuất trong nông nghiệp. Quá trình ấy luôn có hai kiểu thức là tập trungruộng đất theo quy luật và tập trung ruộng đất không theo quy luật, tức tập trung ruộng đất phi kinh tế. Những hiện tượng như đám quan chức tiêu cực biến thành địa chủ mới ở Cà Mau trước đây hay lốiquy hoạch bừa bãi, đền bù bậy bạ mà thực chất là mua rẻ bán đắt ruộng đất của nông dân ở nhiều địa phương vài năm nay chính là biểu hiện của quá trình tập trung ruộng đất phi kinh tế, chuyện đó dĩnhiên phải kiên quyết ngăn chặn. Nhưng trong không ít trường hợp có thể nói việc nông dân bỏ ruộng phổ biến từ Nam ra Bắc hiện nay là dấu hiệu của quá trình tập trung ruộng đất theo quy luật, tức sứcép của kinh tế hàng hóa – cơ chế thị trường sẽ buộc một bộ phận nông dân phải chuyển qua làm nghề khác, việc chiếm hữu và sử dụng ruộng đất sẽ phải chuyển về tay một bộ phận nông dân có vốn liếng vàgiàu kinh nghiệm sản xuất, biết tổ chức sản xuất và thích ứng tốt với thị trường. Những biểu hiện trên bề mặt của quá trình ấy dĩ nhiên rất tàn nhẫn, chẳng hạn một bộ phận nông dân sẽ bị bần cùng hóavề mặt kinh tế, trở thành tầng lớp vô sản nông thôn (nhiều nạn nhân trong vụ sập cầu Cần Thơ năm 2007 là thuộc loại này), nhưng đó là điều tất yếu. Cho nên điều cần suy nghĩ về vấn đề này không phảilà làm sao cho nông dân không bỏ ruộng, mà là làm sao để một mặt thúc đẩy quá trình ấy thật nhanh nhằm sớm ổn định kinh tế nông nghiệp, một mặt giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực về mặt xã hộicủa quá trình ấy để bảo đảm đời sống của bộ phận nông dân không còn ruộng và giữ gìn trật tự xã hội ở khu vực nông thôn, vì trên bình diện xã hội thì bần cùng hóa luôn dẫn người ta tới chỗ lưu manhhóa. Ở đây ngoài chiến lược đúng đắn phải có chính sách nhất quán đi kèm hệ thống các biện pháp kinh tế - xã hội phù hợp, chứkhông thể hô hào lương tâm chay hay nhân đạo suông.

Từ góc độ pháp lý, còn một điểm cần nói thêm về quyền sở hữu ruộng đất . Trên bình diện chính trị thì dĩ nhiên đất đai cũng như sông biển rừng núi ở Việt Nam đều là sở hữu toàn dân, nhưng trên bình diện kinh tế thì một phần các tài nguyên ấy lại phải thuộc quyền sở hữu của những pháp nhân cụ thể. Nhưng quyền sở hữu gồm ba nội dung tức quyền sử dụng, quyền định đoạt và quyền chuyển nhượng, nên trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, nội dung quyền định đoạt trong quyền sở hữu đất đai là đối tượng cần được pháp luật quan tâm chế tài nhất chứ không phải là quyền chuyển nhượng như tập quán trước nay. Bởi nhìn từ một khía cạnh khác thì đất đai còn là một bộ phận hữu cơ của môi trường sống ở nông thôn, không phải cứ sở hữu là có toàn quyền định đoạt theo kiểu đào đất để bán hay đào ao nuôi cá, lấy rễ cây cổ thụ, lấy đá... tùy ý. Dĩ nhiên trong phần lớn các trường hợp nói trên những kẻ thực sự hưởng lợi không phải là người chủ sở hữu, nhưng cần nhấn mạnh rằng những kẻ trực tiếp phá hoại môi trường kiểu này luôn luôn đông hơn và thường chính là những chủ sở hữu nghèo.

Bên cạnh đó, tình hình thực tế cũng như số liệu thống kê đều cho thấy mặc dù là vùng sản xuất nông sản hàng hóa lớn nhất Việt Nam, hơn hai mươi năm qua nông thôn Nam Bộ vẫn chưa được đầu tư phát triển một cách tương xứng. Các chỉ tiêu y tế, giáo dục, phát triển cơ sở hạ tầng... ở đây đều thấp nhất so với toàn quốc, nếu tình hình này tiếp tục kéo dài sẽ có những ảnh hưởng vô cùng bất lợi tới việc nâng cao chất lượng sống của cư dân nông thôn. Nhưng còn có một vấn đề đáng lưu ý hơn tức sự phân chia lợi nhuận giữa khâu sản xuất (nông dân) với khâu phân phối (các doanh nghiệp và tư thương thu mua nông sản hàng hóa), vì nó tác động trực tiếp tới mức sống, quyết định mức độ tích lũy để tái đầu tư của từng gia đình nông dân - đơn vị cơ sở và do đó cũng chi phối tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội lâu dài của nông thôn Nam Bộ. Đây cũng là tình hình chung trong cả nước, chẳng hạn năm trước ở miền Bắc nông dân trồng vải bị ép giá tới mức chỉ bán được 500 – 300 đồng/kg! Ở đây có thể nhắc lại một tổng kết rất đáng suy ngẫm về quan hệ lợi ích giữa nhà nông và người buôn của Kế Nhiên nước Việt thời Xuân thu “...Sáu năm được mùa thì sáu năm mất mùa, cứ mười hai năm thì có một lần đói lớn. Phàm giá gạo mua hai bán mười thì có hại cho nhà nông, mua chín bán mười thì có hại cho người buôn. Người buôn bị hại thì của cải không có, nông dân bị hại thì cỏ dại không trừ. Lên không quá mua tám bán mười, xuống không dưới mua ba bán mười thì nghề nông nghề buôn đều được lợi, giá gạo ổn định vật dùng đầy đủ, chợ không thiếu hàng, đó là cái đạo trị nước( Sử ký, Việt vương Câu Tiễn thế gia, phần Chính nghĩa, dẫn lại từ Việt tuyệt thư). Dĩ nhiên biên độ từ “mua ba bán mười” đến “mua tám bán mười” nói trên được tổng kết trên cơ sở một thực tiễn kinh tế – xã hội xa xưa, nhưng rõ ràng việc xác định những biên độ tương tự như thế là điều cần thiết cho việc phát triển nền nông nghiệp hàng hóa ở Nam Bộ trong hoàn cảnh Việt Nam hiện tại. Cần nhắc lại rằng, trong nông nghiệp thì lao động không đồng nghĩa với sản xuất – người nông dân chỉ lao động để tác động chứ không làm chủ được quá trình sinh học của cây trồng và vật nuôi, đây là chưa nói tới những bất trắc như dịch bệnh, lũ lụt, hạn hán. Người nông dân do đó phải thường xuyên đối diện với mâu thuẫn giữa tiêu dùng và tích lũy, và nếu không có một hệ thống chính sách kinh tế cũng như xã hội được xây dựng trên cơ sở các tính toán khoa học có thể giảm thiểu đồng thời từng bước tiến tới triệt tiêu mâu thuẫn mà nói cho cùng cũng là một bất công xã hội ấy, thì không thể nói tới việc xây dựng một nông thôn Nam Bộ hiện đại và phồn vinh.

Sau cùng, một vấn đề cần quan tâm trong việc xây dựng nông thôn Nam Bộ hiện nay là phương thức sống . Bởi vì bước vào thời kỳ đổi mới từ 1986 trở đi, Việt Nam nói chung và nông thôn Nam Bộ nói riêng cũng bước vào một quá trình tái cấu trúc xã hội với những mục tiêu, động lực và điều kiện hoàn toàn khác trước. Một trong những kết quả của quá trình đang tiếp diễn ấy là cuộc đấu tranh, thỏa hiệp và đan xen giữa nhiều phương thức sống, một cuộc đấu tranh phức tạp không thể tóm tắt trong một mệnh đề. Nhưng dù sao thì Việt Nam cũng phải tiến tới xây dựng một phương thức sống chính thống phù hợp mới có thể khẳng định và bảo vệ được những thành tựu kinh tế xã hội đã, đang và sẽ đạt được trên con đường đổi mới, nên có thể nghĩ tới vấn đề phương thức sống như một yếu tố cấu thành của đời sống văn hóa – xã hội ở nông thôn Nam Bộ hiện nay.

Cần minh định khái niệm phương thức sống. Nó có chỗ giống với khái niệm lối sống tức có sự độc lập tương đối với mức sống, nhưng cũng có chỗ khác. Nếu lối sống là thái độ lựa chọn mang tính chất chủ động của con người đối với hiện thực xã hội, thì phương thức sống là quy trình tái sản xuất mở rộng hoạt động và chất lượng sống của con người trên cơ sở các phương thức tồn tại vật chất, phương thức sinh hoạt tinh thần, phương thức giao tiếp xã hội và phương thức quản lý xã hội cụ thể xác định. Được quy định bởi nhiều yếu tố như vậy, phương thức sống một mặt phản ảnh các quan hệ xã hội chính xác hơn, một mặt thể hiện các khuynh hướng xã hội rõ ràng hơn. Dĩ nhiên ở đây cũng tồn tại một không gian cho sự lựa chọn mang tính chất chủ động của mỗi cá nhân hay nhóm xã hội, nhưng sự lựa chọn ấy không hàm chứa ý nghĩa đạo đức và cá nhân như trong lối sống mà mang tính liên thông xã hội rất lớn, chẳng hạn nó hạn chế tối đa những sáng kiến lập dị cũng như những biểu hiện cực đoan có thể ảnh hưởng bất lợi tới các lợi ích cộng đồng. Tuy nhiên việc xây dựng một phương thức sống phù hợp ở nông thôn Nam Bộ hiện nay đang gặp nhiều trở ngại, mà ở đây chỉ đề cập tới khía cạnh phương thức tồn tại vật chất của một bộ phận nông dân nghèo.

Nếu trở lại với những nạn nhân trong vụ sập cầu Cần Thơ năm 2007, có thể thấy hầu như họ đều không có hay không còn ruộng đất. Không có cái tư liệu sản xuất cơ bản mà cũng là cuối cùng này, toàn bộ kinh nghiệm hoạt động kinh tế trước đó của họ cũng trở thành vô nghĩa, đồng thời toàn bộ quan hệ xã hội phục vụ hoạt động kinh tế vốn có của họ cũng trở thành thừa thãi. Bị vô sản hóa về mặt tư liệu sản xuất, họ cũng đồng thời bị cô lập hóa về mặt quan hệ xã hội. Gần như hoàn toàn bị gạt ra khỏi mọi quy trình tái sản xuất mở rộng, họ đã đi tới một phương thức sống chỉ co cụm lại ở mục tiêu kiếm ăn, hay nói cho ít tàn nhẫn hơn là kiếm sống. Nhiều thiếu nữ nông thôn nhà nghèo ít học ở nông thôn Nam Bộ nhắm mắt lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc chính đã hành xử trên căn bản phương thức sống ấy. Nhiều người khác không xuất ngoại mà tới các đô thị làm đủ mọi nghề từ bán vé số tới gái mại dâm cũng hành xử trên căn bản phương thức sống ấy. Mất đi quá khứ, họ cũng không cần có tương lai! Mà trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay thì bị gạt ra khỏi các quy trình tái sản xuất mở rộng cũng đồng nghĩa với việc bị gạt ra khỏi nền sản xuất xã hội, và đó là cách thức tốt nhất để người ta đánh mất mối liên hệ với truyền thống cũng như đứng ngoài những lợi ích của cộng đồng . Không cần chứng minh nhiều hơn là phương thức sống ấy đã tạo ra rất nhiều nạn nhân, đưa tới rất nhiều thảm kịch, nhưng có rất nhiều người như thế, và hơn thế nữa, chưa có bằng chứng nào để nói rằng số người ấy đang không tiếp tục gia tăng.

Bên cạnh đó kinh tế thị trường đã rút ngắn đáng kể khoảng cách về trình độ tiêu dùng giữa các nhóm xã hội và vùng miền có năng lực tiêu dùng khác nhau trên toàn quốc, nhưng chính vì vậy mà xã hội tiêu thụ đang tạo ra nhiều bất ổn trong phương thức tồn tại vật chất của phần lớn cư dân ở nông thôn Nam Bộ, vì như đã nói ở trên, hoạt động sản xuất của nông dân bị phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên vốn tiềm ẩn rất nhiều bất trắc, nên họ không thể giữ được mức tăng trưởng thu nhập ngoạn mục liên tục trong nhiều năm. Tập tính kinh tế thiên về tiêu dùng hơn là tiết kiệm của con người Nam Bộ nói chung và nông dân Nam Bộ nói riêng đang chống lại họ trong bối cảnh xã hội tiêu thụ, điều này đã được chứng minh qua rất nhiều trường hợp nông dân nhận được tiền đền bù, giải tỏa đất đai...

Là vùng đất có ưu thế toàn diện nhất cả nước về kinh tế nông nghiệp, có truyền thống sản xuất lương thực hàng hóa rồi nông sản hàng hóa lâu đời, nông thôn Nam Bộ với những vấn đề đang đặt ra trước sự phát triển của nó hôm nay cần được các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu quan tâm toàn diện và kịp thời hơn nữa. Bởi vì như người ta đã thấy, nhờ Nam Bộ mà nhà Nguyễn của Gia Long mới đặt được dấu chấm hết cho gần ba trăm năm phân tranh và nội chiến ở Việt Nam trước thế kỷ XIX, và cũng nhờ Nam Bộ, Việt Nam mới trở thành quốc gia có số lượng lúa gạo xuất khẩu loại nhất nhì thế giới từ 1990 trở đi...

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.