Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 10/01/2007 01:07 (GMT+7)

Nông nghiệp Việt Nam trước thềm WTO

Bài học từ khoán 10


Do phát triển công nghiệp, dân số tăng, tốc độ đô thị hóa ồ ạt, môi trường bị hủy hoại… nên diện tích đất trồng trọt đang ngày càng suy giảm. Vì vậy, việc sử dụng đất với hiệu quả cao nhất và giữ không cho thoái hóa vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược lâu dài đối với tất cả các quốc gia.


Với VN, khi diện tích bình quân đầu người quá thấp, đời sống nông dân khó khăn, sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng miền ngày càng rõ, đòi hỏi chúng ta phải có những chính sách phù hợp trong việc sử dụng đất, nhất là ở thời điểm VN đã gia nhập WTO.


Chủ trương “khoán sản phẩm trong nông nghiệp” mà theo cách gọi dân dã là…”khoán 10” hai chục năm qua đã trở thành động lực tạo nên một bước đột phá trong sản xuất nông nghiệp. Lao động tập thể có vị trí cực kỳ quan trọng trong khắc phục thiên tai nhưng phương thức sản xuất tập thể theo kiểu…”mặt trời lên quá ngọn tre mới ra đồng sắp hàng lao động” thì rõ ràng hiệu quả sẽ thấp bởi không phù hợp quy luật tăng năng suất lao động khi được phân công hợp lý.

Ngoài ra, nó cũng chẳng phù hợp lòng người khi hưởng thụ thành quả của lao động như nhau trong lúc lại rất khác nhau về cường độ lẫn chất lượng lao động của từng cá thể. Không hề cường điệu khi nói, nếu không có “khoán 10” thì may lắm chúng ta chỉ có thể tự túc được lương thực nói gì đến dư thừa để xuất khẩu. 


Rõ ràng khi đã được làm chủ trên mảnh đất của mình, người nông dân đã đi theo con đường duy nhất đúng là thâm canh trên cơ sở phát huy độ phì nhiêu thực tế của một đám đất cụ thể để thu được năng suất cao tính bằng giá trị chứ không còn câu nệ về những con số tấn, tạ.


Khi đã vào WTO thì thuộc tính hàng hóa của nông sản làm ra phải mang một chất mới, phải có những điều kiện cần và đủ để cạnh tranh, không những trên thị trường quốc tế mà còn ngay cả trên “sân nhà”. 


Sáu lý do để: tích tụ ruộng đất


Theo thiển ý của chúng tôi, cần đặt vấn đề tích tụ ruộng đất ngay từ bây giờ dựa trên mấy yếu tố chủ yếu sau đây


Một là, nông sản lưu thông trên thị trường phải là nông sản chiến lược, nhiều nước cần nhưng không sản xuất được hoặc sản xuất được với giá thành cao hơn chúng ta. Loại nông sản chiến lược ấy có thể chung cho cả nước, có thể đặc trưng cho từng vùng sinh thái.


Hai là, nông sản ấy phải có chất lượng cao về giá trị dinh dưỡng, không chứa độc tố như kim loại nặng hoặc tàn dư thuốc bảo vệ thực vật. Gần đây, bổ sung vào khái niệm “chất lượng” còn có thương hiệu đặc trưng như tên vùng sản xuất với những hồ sơ xác nhận đã thực hiện được mục tiêu phát triển nông nhiệp bền vững.


Phải thừa nhận chất lượng nông sản hiện nay ở nước ta còn kém nhiều nước, đặc biệt là các nước phát triển. Minh chứng sinh động về chất lượng không đạt tiêu chuẩn có thể tìm thấy ở những nơi sản xuất các giống lúa đặc sản do các đối tác nước ngoài đem vào gieo trồng ở nước ta, điển hình là nếp Nhật Bản, gạo Đài Loan, vừng một vỏ tỷ lệ dầu và protein cao.


Ba là, bởi tiềm năng kinh tế của từng hộ nông dân ở nước ta hiện nay còn quá thấp, không đủ điều kiện để đầu tư vào thâm canh đúng với những biện pháp kỹ thuật tối thích nhằm nâng cao năng suất và chất lượng nên thu nhập của người nông dân tăng trưởng còn rất chậm. Hơn thế, khi canh tác trên những diện tích nhỏ, manh mún thì khó có điều kiện để đồng nhất độ phì nhiêu thực tế, đồng nhất về hiệu lực phân bón, chất lượng giống ban đầu cũng như thời vụ gieo trồng và gặt hái. 


Bốn là, khác với công nghiệp, sản xuất nông nghiệp có không gian rộng hơn, lực lượng lao động nhiều hơn, ảnh hưởng của thời tiết lớn hơn trong lúc hiểu biết về kỹ thuật của nông dân lại không đồng đều nên lợi nhuận thu được cũng rất khác nhau.


Năm là, khi đã có chủ trương đúng và biện pháp kỹ thuật tốt thì vẫn rất cần sự chỉ đạo cụ thể, sát sao, điều chưa thật phổ biến trong hoạt động thực tiễn.


Sáu là, mức độ tiếp nhận thông tin về khoa học và thị trường chưa thực phổ biến kịp thời và rộng rãi trong nông dân đã hạn chế đáng kể khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng như trong nước.


Với những lý do kể trên, thực tiễn đòi hỏi phải đổi mới phương thức quản lý đất đai, thay đổi quyền sử dụng đất nhằm tiêu giảm tỷ lệ nông dân trong cơ cấu dân số, đồng thời cũng tăng nhanh hiệu quả của việc sử dụng đất. Phải chăng con đường tất yếu là tích tụ đất đai với những loại hình khác nhau tùy theo từng vùng, từng đối tượng cây trồng và vật nuôi?


Với bước đi táo bạo nhưng không phiêu lưu, phải chăng đã đến lúc chín muồi để cho ra đời những tập đoàn sản xuất nông nghiệp đa sản phẩm, vừa thực hiện chuyên canh, vừa có những nông sản “vệ tinh” để phòng tránh những giao động về giá cả và thất bát do thời tiết không thuận hòa. 


Hai mô hình để thực hiện thí điểm


Loại hình thứ nhất, dựa trên khả năng điều hành sản xuất giỏi của cán bộ những hợp tác xã còn làm tốt chức năng qui định, trên cơ sở có nhiều xã viên say mê với đồng ruộng, vẫn tự nguyện phấn đấu để trở thành công nhân nông nghiệp qua những cách đào tạo phù hợp.


Loại hình thứ hai,nên thử nghiệm ở những nơi nông dân muốn chuyển sang những nghề khác thì cũng nên để họ được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cách làm đấy đã có trong thực tiễn dưới hình thức trang trại tư nhân, cần được đánh giá kịp thời về tất cả các mặt kinh tế và xã hội.


Tích tụ đất đai đã tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn, tăng cường khả năng hiệp tác trong lao động và trong sử dụng thiết bị, tạo sự đồng thuận trong các chủ trương kỹ thuật và trong chỉ đạo sản xuất.


Nhờ tích tụ đất đai mà điều tra cơ bản cũng khoa học hơn, tránh phân vùng quy hoạch một cách tùy tiện, duy ý chí, chọn lựa cơ cấu cây trồng và vật nuôi chuẩn xác hơn, vận dụng khái niệm “độ phì nhiêu thực tế” nhuần nhuyễn hơn. Đấy cũng chính là môi trường thuận lợi để chọn lọc cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật giỏi, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế càng ngày càng cao, nhằm tạo lập một nền sản xuất bền vững về nông nghiệp nói riêng cũng như toàn bộ nền kinh tế của đất nước nói chung. 


Nguồn: vnn.vn 5/1/2007

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.
GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.
Đắk Lắk: Ứng dụng AI “nghe” độ chín sầu riêng
TS. Lê Minh Tân và CN. Hoàng Ngọc Trung Nguyên (Trường Đại học Tây Nguyên) đã nghiên cứu thành công giải pháp: “Máy phân loại quả sầu riêng theo độ chín sử dụng AI phân tích âm thanh”. Giải pháp này đã đọat giải Nhì Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (2024-2025) khu vực phía Tây.