Nông nghiệp - nông dân - nông thôn - Vai trò và thách thức
Vai trò của nông nghiệp - nông dân - nông thôn
Việt Nam là một nước đi lên từ nông nghiệp với truyền thống của nền sản xuất lúa nước. Đến nay sản xuất nông nghiệp đang chiếm một tỷ trọng khá lớn (21,75%) trong GDP. Lực lượng lao động làm nông nghiệp (nông dân) cũng đang chiếm một tỷ lệ cao (53,9%) trong tổng lực lượng lao động của cả nước. Và nông thôn đang chứa gần 72,56% dân số và chiếm một diện tích khoảng 74,56% diện tích đất tự nhiên của đất nước (Nguồn: GSO, 2007).
Vì vậy ở Việt Nam , Nông nghiệpluôn giữ một vị trí rất quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước. Nông nghiệp đã và đang cung cấp lương thực, thực phẩm cho hơn 86 triệu dân, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và góp phần xuất khẩu lương thực, thực phẩm, cao su, cà phê, ca cao, đồ gỗ... hàng năm đem về hàng chục tỷ USD cho đất nước. Nông nghiệp còn cung cấp nhiều loại nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến (thịt, sữa, cá, rau quả, đồ gỗ, bông vải, cao su, cà phê, chè, mía đường...), tạo công ăn việc làm và thu nhập cho một bộ phận lớn dân cư cả nước. Vì vậy, nông nghiệp luôn chiếm một vị trí quan trọng, giữ một vai trò thiết yếu của đất nước.
Nói đến phát triển nông nghiệp không thể thiếu Nông dân.Nông dân là lực lượng lao động làm nông nghiệp, lực lượng duy trì và thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp và không thể có một lực lượng nào khác có thể thay thế nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Từ xưa đến nay, trong mọi cuộc cách mạng ở nước ta, nông dân luôn là lực lượng đông đảo nhất, đóng góp sức người, sức của nhiều nhất. Trình độ dân trí, trình độ khoa học kỹ thuật của nông dân là đòn bẩy của việc áp dụng các kỹ thuật tiến bộ vào sản xuất nông nghiệp và làm cho nông nghiệp ngày càng có nhiều thành tựu hơn. Cha ông ta đã có câu “ Nhất sĩ nhì nông; hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”.
Nói đến Nông nghiệp không thể không nói đến Nông thôn, vì nông thôn là nơi sinh ra của đại đa số dân cư của đất nước, là nơi sinh sống và làm ăn của nông dân. Đặc biệt, đây là nơi chứa đựng đất đai (tư liệu sản xuất chính và quan trọng nhất của Nông nghiệp và Nông dân). Trong nhiều thời kỳ cách mạng, Đảng ta đã có những chủ trương “ lấy nông thôn bao vây thành thị” hoặc chủ trương xây dựng “ mỗi huyện thành một pháo đài”. Trong thời kỳ chiến tranh giữ nước, phong trào “ gạo không thiếu một cân, quân không thiếu một người” của các địa phương đã là động lực quan trọng góp phần làm nên chiến thắng. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lực lượng lao động cung ứng cho các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp là “ con em nông dân, từ nông thôn”. Trong giai đoạn hiện nay, khi mà dòng người lao động từ nông thôn đang đổ ra thành phố để “kiếm việc làm, kiếm tiền” thì chúng ta lại có chủ trương “ ly nông bất ly hương”.
Rõ ràng “nông nghiệp - nông dân - nông thôn” có mối quan hệ hữu cơ mật thiết, là một thiết chế vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam . Thiết nghĩ, trong thiết chế “nông nghiệp - nông dân - nông thôn” chúng ta phải quan tâm trước hết đến nông dân, xem nông dân làm trung tâm - là hạt nhân.
Để “nông nghiệp - nông dân - nông thôn” phát triển, phát huy được vai trò của nó, chúng ta cần nắm được những thuận lợi và khó khăn của các thành tố trong mối quan hệ này để có giải pháp thích hợp nhằm phát huy tối đa các lợi thế, hạn chế tối thiểu các khó khăn. Làm được như vậy thì đóng góp của “nông nghiệp - nông dân - nông thôn” vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc mới đáp ứng được sự tin cậy cũng như mong mỏi của Đảng và Nhà nước.
Những khó khăn của nông nghiệp - nông dân - nông thôn
Tổng diện tích tự nhiên của nước ta chỉ hơn 320.000km 2, trong đó ¾ là diện tích rừng, đồi, núi, diện tích đất nông nghiệp hạn chế. Dân số nước ta đang ngày càng tăng, mỗi năm tăng hơn 1 triệu người, vì vậy bình quân diện tích đất canh tác chỉ khoảng 500-1000 m 2/người và đang ngày càng giảm.
Hiện nước ta còn khoảng 9 triệu ha đất bị hoang hóa (chiếm khoảng 28% tổng diện tích đất đai trên toàn quốc), trong đó có 5,06 triệu ha đất chưa sử dụng và 2 triệu ha đất đang được sử dụng bị thoái hóa nặng. Đất đai bị khô cằn (khoảng 20 ha/năm) đã làm cho đất trở nên kém màu mỡ (4.300.000ha). Điều này đã ảnh hưởng tới đời sống của khoảng 20 triệu người.Đất lúa để lại từ xưa đến nay chỉ có 4,3 triệu ha. Đến năm 2005 còn lại 4,16 triệu ha. Đất trồng lúa mỗi năm đang giảm đi 1% trong khi dân số tăng 1,3%.
Công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH) đang tác động nhiều chiều lên nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Đất nông nghiệp bị thu hồi phục vụ các dự án công nghiệp, sân golf... nên diện tích đất nông nghiệp đang bị mất dần. Nông dân mất đất, không nghề nghiệp, đã làm cho một bộ phận có nguy cơ tái nghèo. Người nông dân thiếu việc làm do bị mất đất, do xu thế tích tụ ruộng đất ngay tại nông thôn và quá trình đô thị hóa, phát triển các khu công nghiệp hiện nay (20 năm qua, 300.000ha đất nông nghiệp bị mất đi do quá trình này). Điều này đã làm cho vấn đề thiếu việc làm tại nông thôn và xu hướng di dân ra thành phố để mưu sinh là không thể tránh khỏi, lao động trong nông nghiệp cũng giảm mỗi năm 200.000 người.
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thời tiết, khí hậu không thuận lợi, hàng năm hứng chịu nhiều cơn bão và nhiều trận lũ lụt. Mỗi trận bão, lũ gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nông nghiệp, cây trồng và vật nuôi bị ngập lụt, bị chết, bị trôi. Sản phẩm đã thu hoạch bị ướt, bị hư hỏng... Các công trình thủy lợi, đê ngăn mặn, đê sông, đê biển bị phá hoại. Nhà cửa của nhân dân, trường học, công sở bị hư hỏng gây nhiều thiệt hại về người, về của.Giám đốc Viện tài nguyên nước Thế giới đã khuyến cáo Việt Nam cần phải củng cố lại khoảng 520 cây số đập ngăn nước biển và 320 cây số đê, để chống chọi với thủy triều và bão lụt.
Theo nhiều thông tin dự báo về ảnh hưởng của sự ấm lên của khí hậu toàn cầu, Việt Nam là một trong những nước sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Trong đó, nông nghiệp sẽ là lĩnh vực bị bị ảnh hưởng đầu tiên. Mực nước biển ngày càng dâng cao do tình trạng tăng nhiệt toàn cầu sẽ làm nhiễm mặn và nhấn chìm một phần lớn diện tích của đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Hiện tượng trái đất ấm lên có thể tác động xấu đến sản lượng lúa thu hoạch, nhiệt độ trung bình tăng lên 0,7 0C thì sản lượng lúa nông dân thu hoạch sẽ giảm tương ứng 10%. Nhiệt độ trái đất ấm lên cũng sẽ gây ra hạn hán, làm tăng diện tích đất bị khô cằn, sa mạc hóa... làm giảm diện tích canh tác, làm giảm năng suất và sản lượng của cây trồng, vật nuôi.
Nền nông nghiệp của nước ta xuất phát từ một nền nông nghiệp tiểu nông, tự cung, tự cấp. Do vậy, quy mô sản xuất nhỏ, manh mún, chưa có hoặc chậm có tư duy sản xuất hàng hóa. Hơn thế nữa, vì là sản xuất tự cung, tự cấp nên người sản xuất ít quan tâm đến nâng cao chất lượng hàng hóa. Từ đó dẫn tới sản phẩm nông nghiệp của ta chất lượng không cao, vệ sinh an toàn lương thực - thực phẩm thấp. Việc đầu tư công nghệ sau thu hoạch còn rất hạn chế, vì vậy thất thoát sau thu hoạch cao, hàm lượng khoa học trong sản phẩm thương mại thấp, giá bán thấp dẫn tới hiệu quả sản xuất thấp. Sản phẩm chính là hạt gạo, hiện nay ở nhiều vùng nông dân trồng lúa thua lỗ, nhiều hộ không còn khả năng canh tác nhường đất thì các hộ có điều kiện cũng không nhận làm, dẫn tới ruộng đất bị bỏ hoang.
Đối với sản xuất nông nghiệp, nước được xem là một yếu tố rất quan trọng ( nhất nước, nhì phân). Rừng đầu nguồn là nơi giữ nước, rừng bị tàn phá (mất) làm tăng diện tích đất hoang hoá, kéo theo sự giảm sút đáng kể các hệ sinh thái, làm suy thoái vùng đầu nguồn để giữ nước. Cùng với sự suy giảm của rừng, ô nhiễm nguồn nước ngày càng tăng do tình trạng lạm dụng hoá chất trong nông nghiệp, do quản lý chất thải công nghiệp và sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh môi trường. Thói quen dùng nước bừa bãi, tràn lan của người dân đã và đang làm cho tài nguyên nước mặt và nước ngầm bị cạn kiệt dần về số lượng, suy giảm về chất lượng. Nguy cơ thiếu nước cho sinh hoạt và cho canh tác trong những thập kỷ tới là rất cao. Bên cạnh đó, việc khai thác tài nguyên biển, phát triển nuôi trồng thủy sản không có sự kiểm soát chặt chẽ, thiếu quy hoạch hợp lý cũng là yếu tố gây mất rừng phòng hộ ven biển, làm suy thoái đất đai và nguồn nước. Nước và đất ven biển đã bắt đầu bị ô nhiễm với mức độ ngày càng tăng.
Sản xuất nông nghiệp Việt Nam thiếu một dự báo dài hạn tốt, nông dân thấy giá cả lên thì mở rộng diện tích trồng, khi sản phẩm có hiện tượng dư thừa thì rớt giá, nông dân chặt phá để trồng loại cây trồng khác. Vòng luẩn quẩn “trồng, chặt, chặt, trồng” cứ tái diễn từ cây trồng này đến cây trồng khác như mía, cà phê, cao su...
Nông nghiệp - nông dân - nông thôn rất khó khăn trong việc tiếp cận với các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ vay vốn với nhiều quy định và thủ tục phiền hà.Theo bà Trịnh Ngọc Lan (Ngân hàng Nông nghiệp - Chi nhánh Hà Nội), ước tímh đến hết tháng 6/2008, dư nợ cho vay hộ nghèo cùng với đối tượng chính sách là khoảng 181.500 tỷ đồng, chiếm 17% tổng dư nợ cho vay các thành kinh tế khác của các tổ chức tín dụng. Trung tâm Thông tin tín dụng (Ngân hàng Nông nghiệp) cũng cho biết, tính đến tháng 6/2008, cơ cấu tín dụng dành cho TP.HCM và Hà Nội chiếm 54% tổng dư nợ cho vay của toàn hệ thống ngân hàng, trong khi đó khu vực duyên hải miền Trung: 7%, Bắc Trung Bộ: 4%, Đông Bắc Bộ: 4%, Tây Nguyên: 3% và Tây Bắc: 1%. Như vậy, phần lớn thị phần dư nợ đều dành cho thành phố, còn dư nợ cho vùng nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ lệ rất thấp. Hơn thế nữa, việc tiếp cận vốn của khu vực nông thôn chiếm tỷ trọng thấp so với các lĩnh vực phi nông nghiệp và chủ yếu là từ nguồn vốn phúc lợi, còn vốn thương mại rất mỏng. Hiện nay, đầu tư của Nhà nước về nông thôn còn hạn chế (chiếm 14% tổng đầu tư) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào lĩnh vực này không đáng kể (3% tổng đầu tư FDI cả nước).
Sản xuất nông nghiệp Việt Nam thiếu một hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ. Chúng ta đã có “luật đất đai” và đã có sửa đổi, song qua nhiều năm áp dụng vẫn thấy còn nhiều vấn đề bất cập. Những bất cập đó là kẽ hở cho một bộ phận cán bộ có chức có quyền chiếm dụng trái phép đất đai, còn nông dân thì mất đất, không có đất. Thực tế đã diễn ra sự “tích tụ ruộng đất” - con đường để đi lên làm ăn lớn, làm ăn có hiệu quả kinh tế cao hơn, song luật đất đai cũng chưa theo kịp. Việc dồn điền đổi thửa, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, xây dựng trang trại cũng đang có nhiều vướng mắc về hạn điền. Những bất cập này phần nào đã hạn chế sự phát triển sản xuất của nông dân và nông nghiệp.
Nông thôn Việt Nam, nơi sinh sống của hơn 70% dân số của đất nước, song thu nhập thấp, mọi chi phí cho cuộc sống của họ đều cao so với thu nhập mà họ kiếm được. Vì vậy, chênh lệch về thu nhập cũng như chi tiêu giữa nông thôn và thành thị, chênh lệch giàu nghèo đang ngày càng có xu hướng nới rộng.Khoảng cách giàu - nghèo (chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn - thành thị) lên tới trên 6,9 lần (2004), chênh lệch giàu nghèo 4 lần trong nông thôn và 8 lần giữa thành thị và nông thôn ( Nguyễn Trung, 2008 ).
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, thì nông dân và nông thôn càng chịu nhiều thiệt thòi, các sản phẩm mà họ làm ra bao giờ cũng chỉ bán được giá thấp, trong khi đó hàng hóa cần cho cuộc sống của họ, đặc biệt là hàng công nghiệp luôn có giá cao. Hình ảnh người nông dân gánh một tấn thóc đi bán chỉ để mua về một chiếc tủ lạnh hay một chiếc máy giặt là một thực tế sinh động của mối quan hệ này.
Trong thời kỳ CNH - HĐH, thời kỳ sản xuất hàng hóa, nông thôn đang dần mất đi nhiều yếu tố truyền thống. Nhiều lũy tre làng, nhiều ngôi nhà truyền thống đã và đang được thay thế bằng những bờ tường xây, những ngôi nhà cao tầng - nhà hộp đã làm mất đi nét làng quê Việt Nam . Sản xuất hàng hóa, đồng tiền là trên hết cũng đã và đang đánh mất đi cái gọi là “tình làng nghĩa xóm” đã có được từ hàng ngàn năm nay nay ở mỗi làng quê Việt Nam.
Nông dân Việt Nam , lực lượng lao động chiếm tới 57% tổng lực lượng lao động, song trình độ văn hóa, trình độ khoa học công nghệ của họ thấp. Điều này là cản trở lớn trong việc tiếp thu và áp dụng các kỹ thuật công nghệ vào sản xuất và đời sống. Vì vậy, năng suất cũng như chất lượng của hầu hết các sản phẩm của các loại cây trồng đều thấp. Đây là một thiệt thòi lớn khi đất nước ta hội nhập vào WTO. Đặc biệt trong tình hìnhChính phủ sẽ ngày càng ít can thiệp trực tiếp vào giá cả và điều này đồng nghĩa, nông dân sẽ đối mặt nhiều hơn, gay gắt hơn với bất ổn của thị trường thế giới.
Nông dân Việt Nam là tầng lớp nghèo trong xã hội, ngoài ruộng đất (thuộc sở hữu toàn dân) và nhà cửa để ở, thì các tài sản có giá trị cao hầu như họ không có. Họ luôn luôn thiếu vốn mỗi khi cần tiền để đầu tư vào sản xuất. Hiện tượng vay nặng lãi, bán “lúa non” để mua phân bón hay thuốc trừ sâu phục vụ cho sản xuất đã và đang diễn ra khá phổ biến ở nhiều vùng, miền trong cả nước. Điều này đã làm cho giá trị các sản phẩm họ làm ra giảm giá trị một cách đáng kể. Tất cả những điều đó nói lên rằng, khả năng đầu tư để tái sản xuất của nông dân là rất thấp. Đặc biệt, trong thời kỳlạm phát tăng cao, giá cả biến động, làm tăng “đầu vào” sản xuất nông nghiệp, khiến nông dân càng khó khăn. Lãi suất ngân hàng tăng cao và khó tiếp cận vốn tín dụng hơn trước, cũng là điều nông dân lo lắng.
Lời kết
Phát triển Nông nghiệp - Nông dân - Nông thôn ở Việt Nam có nhiều thuận lợi và cũng không ít khó khăn thách thức như chúng ta đã thấy. Song chúng ta phải làm sao để nông nghiệp - nông dân - nông thôn đạt được những thành tựu: Nông nghiệp ngày càng làm ra nhiều của cải hơn; Nông dân có nhiều việc làm hơn, có thu nhập cao hơn, có kinh tế vững mạnh; Nông thôn phát triển trở nên văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ được các nét “truyền thống” của làng quê Việt Nam.
Để có được các thành tựu trên, chúng ta cần: Lấy nông dân làm trung tâm; Đầu tư thỏa đáng cho nông nghiệp, nông thôn là khâu đột phá; Bằng nội lực, người dân nông thôn chỉ đủ đảm bảo mưu sinh, vì vậy muốn phát triển bền vững, cần rất nhiều sự hỗ trợ từ bên ngoài; Phải có sự dịch chuyển lao động; Tăng đầu tư của nhà nước về nông thôn; Phải CNH - HĐH nông nghiệp - nông thôn; Thiết lập hệ thống khuyến nông tốt; Tận dụng nhiều hơn những ưu đãi cho nông nghiệp; Có chính sách hỗ trợ cho an ninh lương thực.Nhất định nông nghiệp - nông dân - nông thôn sẽ phát triển bền vững, góp phần làm cho đất nước phồn thịnh, ổn định về chính trị, kinh tế và xã hội, xứng đáng với sự quan tâm, tin tưởng của Đảng, Nhà nước.








