Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 17/08/2006 00:12 (GMT+7)

Những yêu cầu đổi mới cơ bản giáo dục nước ta

Vấn đề mấu chốt trong đổi mới sự nghiệp giáo dục Việt Nam mà Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Ðảng khẳng định là "Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở -  mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục". Ðây là cách đặt vấn đề giáo dục với yêu cầu mới: Chuyển từ chủ trương giáo dục cho mọi người sang chủ trương mọi người đều phải thực hiện việc học tập suốt đời. Cách đặt vấn đề trên căn cứ vào tư tưởng Hồ Chí Minh về sự học, đồng thời căn cứ vào yêu cầu đổi mới giáo dục của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại. Ðến thăm lớp nghiên cứu chính trị khóa I Trường đại học nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Học  hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân"(H).

 

Ngày nay, trước bối cảnh phát triển như vũ bão của thế giới hiện đại, tư tưởng về sự học hành của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị.

Khái niệm học tập (hay giáo dục) suốt đời cần phải được hiểu khác trước thì nó mới có tác dụng như một chiếc chìa khóa để giải quyết những vấn đề đặt ra trong những năm đầu của thế kỷ 21 như tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển xã hội bền vững, xóa nghèo toàn diện: nghèo về tri thức, nghèo về nhân văn và nghèo về thu nhập. Như vậy, sự hiểu biết của chúng ta về học tập suốt đời là phải từ bỏ quan niệm và thái độ truyền thống về phân biệt giữa giáo dục ban đầu và giáo dục liên tục. Giáo dục ban đầu bao gồm giáo dục từ mầm non (giáo dục nhà trẻ và mẫu giáo) đến giáo dục đại học. Nếu chủ trương giáo dục cho mọi người thì hệ  giáo dục ban đầu đã có đủ khả năng để mỗi cá nhân trong xã hội được thụ hưởng một lần trong đời mình. Còn nếu chủ trương học tập suốt đời thì phải đầu tư thật sự cho hệ giáo dục liên tục để cho người lao động và người lớn (mà trong văn kiện của Ðại hội X của Ðảng đã nhấn mạnh là hệ giáo dục cho người trung niên trở lên) luôn tìm thấy cơ hội học tập và điều kiện học tập dưới một hình thức giáo dục ngoài nhà trường, cũng không loại trừ việc học trong hệ nhà trường chính quy.

Mô hình giáo dục mở ghi trong văn kiện Ðại hội X của Ðảng chính là mô hình gắn kết giáo dục ban đầu và giáo dục liên tục thành một hệ thống, trong đó  tại bất cứ thời điểm nào và bất cứ không gian nào, mỗi thành viên trong xã hội, không phân biệt tuổi tác, giới tính, thành phần xã hội, nghề nghiệp và địa vị xã hội đều có thể tiến hành việc học tập theo nhu cầu của cá nhân như để nâng cao học vấn, hoàn thiện tay nghề, chuyển đổi nghề nghiệp, lấp những lỗ hổng trong kiến thức quản lý, trau dồi văn hóa lãnh đạo, tu dưỡng đạo đức.

Mô hình giáo dục lý tưởng ấy chính là mô hình xã hội học tập mà Ðảng ta đề cập từ Ðại hội IX và khẳng định phải phát triển nó một cách tích cực trong những năm trước mắt. Việc thực hiện được mô hình ấy hay không tùy thuộc rất nhiều vào việc khắc phục thái độ và quan niệm lỗi thời hiện nay về giáo dục thường xuyên - hệ thống bảo đảm cho giáo dục liên tục được mở rộng cho một lượng người học ít ra cũng nhiều gấp ba lần so với số người theo học hệ giáo dục ban đầu. Chừng nào mà còn coi nhẹ giáo dục thường xuyên thì chừng đó, giáo dục thường xuyên vẫn không khác cách tổ chức  học bổ túc văn hóa của mấy chục năm về trước. Trong xã hội hiện đại, việc tổ chức hệ giáo dục thường xuyên là để con người thực hiện việc học suốt đời. Giáo dục thường xuyên đáp ứng những thách thức của một thế giới nhanh chóng thay đổi, nó mở ra sự đa dạng hóa hết sức rộng rãi đối với các hình thức học tập để mọi tài năng đều được phát huy, những thất bại học đường sẽ bị hạn chế, giúp cho người có nhu cầu học, đặc biệt là thế hệ trẻ loại bỏ được cảm giác bị loại thải trong cuộc sống xã hội và luôn nhìn thấy viễn cảnh phát triển của cá nhân mình.

Ðể đổi mới hệ thống giáo dục thường xuyên ở nước ta, các nhà lãnh đạo và quản lý giáo dục cần vượt ra khỏi sách giáo khoa giáo dục học và tâm lý học truyền thống, trong đó cắt khúc đời sống con người thành các giai đoạn tuổi thơ, tuổi trẻ học đường, tuổi lao động, tuổi về hưu...; nghĩa là, biệt lập từng giai đoạn phát triển của con người. Trong xã hội ngày nay, cách nghĩ và cách hiểu đó không đáp ứng được những đòi hỏi của tương lai bởi bây giờ là thời điểm buộc mọi người thấy rằng, không thể hy vọng tích lũy một lần đã đầy đủ vốn tri thức để dùng cho cả cuộc đời. Người ta sẽ sống lâu hơn, giờ lao động trong ngày sẽ rút bớt đi, nhưng tri thức ngày càng nhiều lên, bất cứ lứa tuổi  nào cũng phải được trang bị những kiến thức mới, những kỹ năng mới thì mới thích ứng với lối sống của xã hội hiện đại. Dừng việc học tập là chấp nhận việc bị loại ra khỏi thế giới năng động. Khi tổ chức hệ giáo dục thường xuyên trong thời đại điện tử (trong xã hội thông tin), nhà giáo dục cần nhận thức rõ một điều: Công nghệ mới có nguy cơ lớn nhất là tạo ra sự phân biệt và sự khác biệt. Những chênh lệch mới đang xuất hiện và tăng lên giữa các quốc gia khác nhau, tức là giữa những quốc gia đã thích ứng với những công nghệ mới với  những quốc gia đang thiếu khả năng tiếp cận với những công nghệ mới vì lý do nào đó. Song, trong nội bộ một quốc gia, giữa những người có khả năng sử dụng công cụ mới và những người thiếu khả năng ấy cũng có những khác biệt. Sự khác biệt như thế là nguồn gốc của hiện tượng mất dân chủ và không ít hiện tượng tiêu cực khác trong xã hội ngày nay như sự phân hóa giàu nghèo mang tính thời đại, những nguy cơ mới của những người "mù" tin học, v.v.

Sự phát triển hệ giáo dục thường xuyên, hiểu theo đúng khái  niệm hiện đại, là để con người tránh được tình trạng rơi vào cảnh chỉ được tiếp cận với những thông tin mang tính chất "ăn xổi ở thì" và chỉ với tay tới những công nghệ lạc hậu. Trong văn kiện Ðại hội X của Ðảng có nhấn mạnh đến mục tiêu "hiện đại hóa" giáo dục. Có lẽ, đối với hệ giáo dục thường xuyên của nước nhà, cần lấy tư tưởng nêu trên để soi sáng cho cách  làm trong những năm tới đối với hệ thống này.

Ðể triển khai hệ giáo dục thường xuyên, chúng ta cần có sự tiếp cận nhanh hơn với hệ thống này ở những nước đã có chiều sâu phát triển. Trước hết, cần lưu ý rằng, coi nhẹ giáo dục thường xuyên, có thái độ phân biệt cứng nhắc giáo dục chính quy với giáo dục thường xuyên sẽ làm cho giáo dục thường xuyên không thể trở thành một phong trào quần chúng rộng  lớn. Quan trọng hơn là, coi thường giáo dục thường xuyên sẽ là thái độ không ủng hộ việc tổ chức học tập suốt đời mà ta mong muốn.

Hệ giáo dục thường xuyên có quan hệ mật thiết và song hành với giáo dục chính quy. Giáo dục chính quy là hệ giáo dục quy định rất chặt chẽ và chi tiết về mục tiêu, nội dung, phương pháp, sách giáo khoa, thiết bị dạy học, thời lượng học toàn năm và toàn kỳ, kiểm tra, thi cử, v.v. Trong khi đó, giáo dục thường xuyên cho người lớn thường rất đa dạng về hình thức, bao gồm giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy, giáo dục bán chính quy và giáo dục cận chính quy. Giáo dục không chính quy tuy vẫn có tính trường quy nhưng lại mềm dẻo về kế hoạch lên lớp, phương pháp đào tạo, tài liệu học tập, cách thức quản lý, tiến độ và thời gian tiến hành, v.v. Giáo dục phi chính quy được tổ chức linh hoạt bởi lấy sự tự học làm phương thức học tập chủ yếu và mục tiêu là cần gì thì học nấy. Người ta có thể học qua các lớp bồi dưỡng, qua đài truyền hình, qua các hình thức trao đổi ý kiến rất linh hoạt, giúp cho người học tìm được cách học phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh sống, thỏa mãn được nhanh chóng nhu cầu học để phục vụ sản xuất và đời sống. Giáo dục bán chính quy hay cận chính quy là giáo dục theo phương thức vừa học vừa làm, nội dung học bám sát chương trình quốc gia nhưng cách tổ chức học và kiểm tra, đánh giá lại linh hoạt hơn. Ðó là những hình thức giáo dục nằm giữa hệ chính quy và hệ không chính quy.

Những người học hệ chính quy (đặc biệt là thế hệ trẻ) sẽ tiếp tục học theo các hình thức khác nhau của hệ giáo dục thường xuyên. Song, điều đó không có nghĩa là người học hệ thường xuyên không còn cơ hội quay  lại trường học chính quy. Ðối với những người lao động có nhiều sáng kiến, nhiều kinh nghiệm, lại có thành tích cao trong học tập ở hệ giáo dục thường xuyên thì nhà trường chính quy, đặc biệt là trường đại học cần mở rộng cửa tiếp đón họ, tạo điều kiện để phát huy mạnh mẽ năng lực tiềm tàng trong họ.

Giáo dục thường xuyên luôn gắn chặt với cộng đồng, mục tiêu của nó nhằm tạo nguồn nhân lực phục vụ những nhiệm vụ kinh tế - xã hội của từng địa phương nên cách tổ chức của nó thường bám chắc trong từng cộng đồng.  Hiện nay, ở nước ta đang phát triển những trung tâm giáo dục thường xuyên cấp tỉnh và huyện, những trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường. Trong tương lai gần, sau khi cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở thì những trung tâm này phải có nội dung đào tạo, bồi dưỡng tương đương trung học để hỗ trợ mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học. Và sau việc hoàn thành nhiệm vụ giáo dục bắt buộc ấy, chắc chắn là sẽ xuất hiện những trung tâm bổ túc sau trung học, những cao đẳng hoặc đại học cộng đồng, v.v.

Vấn đề học suốt đời tất yếu dẫn đến chủ trương phát triển rộng rãi hệ đại học mà ở nhiều nước, người ta gọi là đại chúng hóa đại học. Ðây là câu hỏi buộc chúng ta phải tìm lời giải đáp từ bây giờ, bởi vì, sẽ đến một lúc trên thị trường lao động sẽ có nhu cầu nhân lực ở trình độ đại học nhiều hơn. Lúc đó, văn bằng đại học là điều kiện để người ta củng cố vững chắc hơn nơi làm việc đã kiếm được và học vấn đại học sẽ bảo đảm cho người ta thăng tiến nhanh hơn, tăng thu nhập vững chắc hơn, v.v.

Tuy nhiên, để đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển hệ đại học mà Ðại hội X của Ðảng đã đề ra, chúng ta cần đánh giá cho đúng vai trò của trường đại học trong thế giới hiện đại. Giáo dục đại học là một động lực mạnh để phát triển kinh tế - một động lực mà giáo dục trung học không thể tạo ra được. Song, cũng phải thừa nhận rằng, giáo dục đại học luôn là tiêu điểm của việc học trong xã hội. Trường đại học vừa lưu giữ, vừa sáng tạo những tri thức, lại là nơi chuyển tải kinh nghiệm văn hóa và khoa học - công nghệ cho các thế hệ theo học.

Trên quan điểm phát triển giáo dục suốt đời thì phải giữ các luận điểm sau:

- Áp lực xã hội và nhu cầu của thị trường lao động đã và sẽ làm đa dạng hóa mạnh mẽ các cơ sở đào tạo đại học. Các trường đại học sẽ không còn độc quyền về giáo dục đại học; hệ thống giáo dục đại học sẽ dần dần phức tạp về cơ cấu, chương trình, số lượng sinh viên, quan hệ quốc tế, v.v.

- Trong vai trò xã hội của mình, các trường đại học có thể sử dụng quyền tự chủ vào việc tranh luận những vấn đề lớn về đạo đức và khoa học mà xã hội sẽ phải đối mặt. Mặt khác, trường đại học là cầu nối với chỗ còn lại của hệ thống giáo dục, bằng cách cung cấp cho người lớn khả năng trở lại việc học và thực hiện chức năng của một trung tâm nghiên cứu làm phong phú và bảo tồn nền văn hóa.

- Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của các cơ sở đào tạo đại học sẽ cung cấp cơ sở nền tảng cho các chương trình phát triển, cho việc hoạch định chính sách và đào tạo nguồn nhân lực ở trình độ trung, cao cấp.

Giáo dục đại học phải trở thành công cụ để cải cách và đổi mới nền giáo dục của quốc gia.

- Các trường đại học phải sẵn sàng đáp ứng nhu cầu làm chủ công nghệ của nông dân và công nhân trong các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và công nghiệp. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trường đại học vừa phải cung cấp những chuyên gia quen thuộc với những công nghệ tiên tiến, nhưng mặt khác có nhiệm vụ làm tăng năng lực trí tuệ của người lao động tăng lên ở mọi trình độ.

- Vai trò quan trọng của các trường đại học quốc gia và địa phương là làm cầu nối giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển.

- Các cơ sở đại học có nhiệm vụ lấp dần khoảng trống về kiến thức và làm phong phú thêm đối thoại giữa các dân tộc và các nền văn hóa.

Như Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng đã chỉ ra,  trong nhiệm kỳ này, toàn Ðảng, toàn dân phải đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới giáo dục. Cốt lõi của vấn đề đổi mới giáo dục là xây dựng nước ta trở thành một xã hội học tập, lấy tư tưởng học tập suốt đời làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt các hệ thống giáo dục trong xã hội.

GS.TS Phạm Tất Dong
(*) Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 8, trang 215

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.