Những vị thuốc mang họ “Ngưu”
Khiên ngưu tử
Khiên ngưu tử là hạt của cây Khiên ngưu còn gọi là Hắc sửu, Bạch sửu, Nhị sửu, Bìm bìm biếc, tên khoa học Pharbiti pupereaL., họ Bìm bìm (Covolvulaceae). Hạt trên mặt màu đen gọi là Hắc sửu, màu vàng gọi là Bạch sửu, đều có tác dụng như nhau. Theo sách của GS Đỗ Tất Lợi, “Khiên ngưu” có nghĩa là “dăt trâu” (khiên là dắt, sửu là trâu) vì theo truyền thuyết, thuở xưa có người dùng vị thuốc này khỏi bệnh, dắt trâu đến tạ ơn người mách thuốc.
Hoạt chất chính có trong Khiên ngưu tử là pharbitin, ngoài ra còn chứa các chất khác như axit nilic, lysergol, chanoclavin, peniclavin, isopniclavin, elymoclavin.
Pharbitin có tác dụng gây xổ rất mạnh ở liều cao; với liều thấp, nó có tác dụng nhuận trường. Pharbitin kích thích niêm mạc ruột non, làm tăng sự xuất tiết và tăng nhu động ruột. Tác dụng nhuận trường xảy ra sau khi uống thuốc 3 giờ. Sau khi hấp thu vào máu, pharbitin đi đến thận và tác động lên các ống thận gây ra tác dụng lợi tiểu bằng cách làm giảm sự tái hấp thu ở ống thận.
Khiên ngưu tử còn có tác dụng tẩy giun đũa và sán dây. Thuốc thường được dùng để chữa trị táo bón và phù thũng. Liều thường dùng là 5 - 6g. Thuốc không nên uống thường xuyên và chống chỉ định ở phụ nữ có thai. Dùng quá liều có thể gây ra chứng tiểu máu, đau bụng, buồn nôn và nôn ói. Thuốc không được dùng chung với dầu croton.
Theo y học cổ truyền, Khiên ngưu tử vị đắng cay, tính hàn có độc, vào các kinh Phế, Thận, Đại tiểu trường kinh.
Ngưu tất:Vị ngưu tất (Radix Achyranthis bidentatae) dùng làm thuốc là rễ phơi hay sấy khô của cây ngưu tất, còn gọi là Hoài ngưu tất (Achyranthis bidentata blume). Ngưu tất có vị đắng, chua vào can kinh và thận kinh.
Theo y học cổ truyền: trừ ứ bế và điều kinh. Bổ gan, thận, khỏ cơ gân, lợi tiểu, chống loạn tiểu tiện. Tăng tưới máu cho phần dưới cơ thể.
Chủ trị các chứng:rối loạn kinh nguyệt, đau bụng kinh, đau do chấn thương, đau lưng mỏi gối, tiểu ra máu, tiểu tiện đau buốt, ho ra máu, nôn ra máu, đau răng, đau đầu.
Theo kết quả nghiên cứu dược lý hiện dại:Thuốc có tác dụng thúc đẩy quá trình tổng hợp protein. Dịch chiết xuất từ Ngưu tất có tác dụng ức chế tim ếch cô lập, làm giãn mạch, hạ huyết áp, kích thích tử cung. Thuốc còn có tác dụng lợi tiểu, hạ đường huyết, cải thiện chức năng gan, hạ cholesterol máu.
Ngưu hoàng
![]() |
| Ngưu hoàng Calculus bovis |
Khi mổ trâu, bò lấy túi mật cần lưu ý sờ nắn túi mật và ống mật. Nếu thấy có cục cứng thì nên sớm rạch túi mật để mật chảy ra, lọc qua rây, lấy mật riêng và Ngưu hoàng riêng. Nếu để lâu, dịch mật ngấm vào Ngưu hoàng sẽ làm Ngưu hoàng đen, giảm chất lượng. Khi lấy được Ngưu hoàng rồi thì rửa qua rượu, bọc kín, phơi râm cho đến khi khô. Không được phơi nắng hay sấy lửa, không được phơi ở chỗ có gió mạnh, nếu không Ngưu hoàng bị nứt vỡ, sậm đen lại.
Ngưu hoàng tổng hợp là dùng mật bò hay mật heo gia công tổng hợp thành. Những năm gần đây, người ta dùng phương pháp nuôi Ngưu hoàng thiên nhiên ở những con bò sống bằng cách cấy Hoàng hạch vào túi mật rồi bơm trực khuẩn E. colikhông gây bệnh vào, làm cho thành phần của mật bám vào Hoàng hạch, hình thành sạn mật. Vì vậy, gọi là Ngưu hoàng nhân tạo.
Thành phần hoá học:Trong Ngưu hoàng có chứa các chất sau: axit cholic, axit desozycholic, cholesterol, bilrubin, axit tauro -cholic, glycin, alanin, methionin, asparagin, arginin, natri, magnê, canxi, phosphat, sắt, caroten, axit amin và vitamin D.
Tính vị:vị đắng, tính bình, vào Tâm kinh và Can kinh.
Tác dụng:thanh tâm, giải độc, thông khiếu, tiêu đờm.
Chủ trị:sốt cao co giật, mê sảng, động kinh.
- Hôn mê co giật do sốt cao: Dùng Ngưu hoàng với Hoàng liên, Tê giác và Xạ hương.
- Đau họng hoặc loét do tính nhiệt độc: Dùng Ngưu hoàng với Thanh đại và Kim ngân hoa.
Liều dùng: 0,3g - 0,6g/ngày.
Cách sử dụng:Ngưu hoàng khi cần dùng thì lấy ra tán bột. Dùng đến đâu tán nhỏ đến đó và nên dùng ngay. Vì Ngưu hoàng rất dễ vỡ, vụn nát, nên cần bọc bông, lụa để vào hộp sắt, lọ kín có lót chất hút ẩm (silicagel, vôi sống…). Tránh ẩm, tránh va chạm, đè nén.
Kiêng kỵPhụ nữ có thai không nên dùng vì làm sẩy thai.
Ngưu bàng
![]() |
| Ngưu bàng Arctium lappa |
Mô tả:Ngưu bàng là cây thảo, sống hàng năm, cao 1 - 1,5m, lá mọc thành hoa ở gốc, mọc so le trên thân. Cụm hoa hình đầu, mọc ở đầu cành, cánh hoa có màu hơi tím. Lá to rộng có hình trái tim, mặt dưới lá có nhiều lông trắng.
Bộ phận dùng làm thuốc là quả (Ngưu bàng tử), rễ (Ngưu bàng căn).
Tác dụng:Ngưu bàng là một trong những thảo dược có tác dụng thanh lọc máu hiệu quả mà không gây nôn ói. Ngưu bàng chứa từ 20 - 50% inulin và rất nhiều sắt.
Ngưu bàng thường được dùng để chữa trị chứng viêm khớp, viêm thần kinh toạ và nhiều bệnh khác liên quan đến xương. Ngưu bàng còn có tác dụng làm giảm sưng viêm, cặn lắng canxi, và có thể làm giảm phù do nước.
![]() |
Theo y học cổ truyền, Ngưu bàng tử có vị cay, đắng, tính hàn, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh nhiệt, giải độc… chữa cảm cúm, viêm tuyến vú, viêm phổi, viêm họng, viêm tuyến nước bọt, viêm tai giữa, mụn nhọt, sởi, đậu và một số bệnh ung thư… Do cây có tính hàn nên người tỳ vị hư hàn (lạnh bụng, ăn uống chậm tiêu, thích ăn uống ấm nóng…) không nên dùng.











