Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 15/12/2009 00:21 (GMT+7)

Những biểu tượng chiến tranh chống Mỹ trong ca khúc Việt Nam sau 1975

Khỏa trần Trường Sơn(Nguyễn Đình Bảng, 1994)

Im vắng trong rừng trong veo dòng suối cả tiểu đội con gái khỏa trần giữa Trường Sơn

Mười hai tòa thiên nhiên lồng lộng giữa thiên nhiên nguyên trang nguyên trinh nguyên hình nõn nuột phút ngắm mình khỏa trần bất chợt câu hát ngân nga.

Khỏa trần giữa Trường Sơn trong ngọc trắng ngà như một bầy tiên sa ú oà mặt suối chợt cơn gió từ xa ào tới lá rừng xao xác bay.

Khỏa trần giữa Trường Sơn để tự lấp đầy khoảng im vắng trống trơn đoạn đường con gái nỗi khoa khát nên kìm hóa dại tiếng cười rú từng cơn.

Khỏa trần giữa Trường Sơn

Một đời xuân độc thoại vật vã cùng con đường sốt rừng đeo đẳng mãi cả tiểu đội con gái Trường Sơn khỏa trần.

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng (phải)
Nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng (phải)
Mới đọc thì thấy những từ được viết ra có một chân dung thôn dã, nửa khêu gợi, nhưng thực tế chúng thể hiện quá khứ và hiện tại đầy gian khó của những cô gái trẻ này. Nguyễn Đình Bảng cho tôibiết việc khoả thân ở đây là hiện thân của sự lộ mình mà không có nơi ẩn náu, không được bảo vệ khỏi nguy hiểm triền miên, của những người phụ nữ không được trang bị vũ khí hay vỏ bọc sắt thép nàokhi đối mặt với những trận bom oanh tạc ngày nối ngày (Phỏng vấn Nguyện Đình Bảng, Hà Nội, 14.9.2005). Ông cũng kể về hoàn cảnh của họ:

Suốt ngày cuốc xẻng dọn đường, mở đường. Đêm đứng nhìn từng đoàn xe qua, í ới vui cười chốc lát rồi lại trở về im lặng. Thấp thoáng bóng dáng của những người đàn ông xa lạ lướt qua họ, không thể nào neo đậu dù chỉ là một ngày. Thế rồi "một ngày như mọi ngày", không ai ở lại mà tuổi xuân thì vụt trôi qua tự bao giờ.

Điều làm nên ấn tượng mạnh nhất cho người sáng tác là những hi sinh tuổi trẻ của những cô gái - họ chưa từng có gia đình và họ chưa hề yêu (Đinh An Linh 1997, 6-7). [5]

Nếu vấn đề những người lính mất tích khi làm nhiệm vụ là điều quan trọng đối với nước Mỹ, thì nó trở nên nghiêm trọng hơn nhiều đối với người Việt vốn mất mát nặng nề hơn. Từ giữa những năm 1990, đã có một hoạt động phổ biến của những người lính và gia đình đi tìm kiếm những gì còn lại của đồng đội và người thân. [6] Ca khúc Khúc ru tìm đồng đội của Hoàng Tạo khắc hoạ nỗi buồn thương và sự thanh thản trong việc tìm lại đồng đội mất tích. Âm nhạc của ca khúc pha trộn giữa lối hát ru than vãn với nhịp điệu da diết u uẩn lắng sâu bên dưới.

Khúc ru tìm đồng đội(Hoàng Tạo, 2002)

Ơi a a bạn, ơi a a anh,

Đất đai lặng im đầy tình, có thiêng thì cho mình gặp.

Đồng đội đi tìm đồng đội như lòng ai dọc hành trình.

Hỡi lối a mòn,

Hỡi suối ngàn thu cất lên một tiếng trầm hùng thầm sầu là nghĩa tận cùng,

Trở lại tìm đồng đội,

Người đồng đội đã yên nằm mà sự tích trận đánh âm vang chiều rừng xa.

Rồi mai đón anh về, đồng đội lại gặp đồng đội, đầm ấm làng xóm của ta bên anh, bên anh ngàn năm.

Nhạc sĩ Thuận Yến
Nhạc sĩ Thuận Yến
Ca khúc Lá thư gửi từ lòng đấtcủa Phan Lai Triều là lời kể lại từ bức chúc thư viết năm 1972 của Lê Văn Huỳnh, một người đàn ông trẻ gửi cho giađình và người vợ mới cưới. Thư của anh viết cho vợ có câu “khi được sống hoà bình hãy nhớ đến anh” được dùng làm câu kết bài hát, nhưng trong thư điều nhắc đến rất rõ là muốn vợ hãy gắng đi tìm mộ,và mô tả trước chỗ mà cô có thể tìm ra được. Cuối cùng vào năm 2002, cô đã đến được nơi chôn anh gần sông Thạch Hãn ở Quảng Trị. Lời bài hát là một lời khẳng định tiếp tục của sự thuỷ chung và đợichờ của người vợ (Nguyễn Văn Thục 2004).

Lá thư gửi từ lòng đất(Phan Lai Triều, 2004, dựa trên lời thư của Lê Văn Huỳnh)

Ngày đồng đội về dù không thấy bóng hình anh

Nhưng em đừng buồn vì anh yêu tổ quốc và yêu em yêu cả cuộc đời.

Ngày hòa bình về nhoà trong nước mắt tìm anh,

Em đi tàu vào rồi qua sông Thạch Hãn là nơi anh xa mãi cuộc đời.

Đọc lá thư anh xiết bao nỗi niềm thương nhớ,

Đã bao năm em đợi em chờ,

Dù lửa đạn dù nắng mưa dù tóc em xanh nay đã bạc màu,

Mà bây giờ thư anh mới đến được tay em.

Đọc lá thư anh, lá thư gửi từ lòng đất,

Em nhớ thương anh khắc ghi lời anh nhủ khi được sống hòa bình hãy nhớ tới anh.

Khi được sống hòa bình hãy nhớ tới anh.

Ở phần đầu tôi đã trích dẫn nhật ký của bác sĩ trẻ Đặng Thùy Trâm. Một cô gái Hà Nội gốc, mới tốt nghiệp từ trường Y, cô đã trải qua gần 4 năm ở tỉnh Quảng Ngãi, miền Trung Việt Nam, nơi diễn ra những trận đánh ác liệt nhất và liên miên nhất. Cuốn nhật ký khác thường vì nó đã đem đến một cái nhìn không tô vẽ về cuộc chiến. Cô viết về khoảng thời gian hai năm của tình đồng chí, sự hi sinh và chủ nghĩa anh hùng, nhưng cũng viết về những người bạn và bệnh nhân gục ngã vì chiến tranh. Nhật ký dường như là một người bạn đường mà cô có thể tìm thấy sức mạnh để đối mặt với những thử thách ghê gớm phía trước. Khía cạnh gây xúc động nhất của cuốn nhật ký là nỗi cô đơn của cô gái. Khi tôi tìm gặp, Trần Tiến đã trình bày một bài hát mới cho tôi nghe dựa trên cuốn nhật ký với đầu đề Tôi cô đơn như một ngọn cờ(bài hát quá mới nên tôi chưa có được tài liệu âm thanh). Một phần lời được lấy từ những dòng cuối từ những trang cuối nhật ký viết ngày 20 tháng Sáu 1970 (hãy so sánh với lời ca khúc được chép tiếp sau):

“Không, mình không còn thơ dại nữa, mình đã lớn, đã dày dạn trong gian khổ nhưng lúc này đây sao mình cảm thấy thèm khát đến vô cùng bàn tay chăm sóc của một người mẹ mà thực ra là một bàn tay của một người thân hay tệ hơn chỉ là một người quen cũng được. Hãy đến với mình, nắm chặt tay mình trong lúc cô đơn, truyền cho mình tình thương, sức mạnh để vượt qua những chặng đường gian khổ trước mắt” (Đặng Thùy Trâm 2005, 256).

Tôi cô đơn như một ngọn cờ(Trần Tiến. 2005)

Tôi cô đơn như một ngọn cờ

Ngọn cờ khát khao

Ngọn cờ bão giông

Ngọn cờ xé nát trong lòng đạn thù

Ngọn cờ vút bay trong niềm kiêu hãnh Tự Do

Tôi cô đơn như một ngọn cờ

Trên đỉnh núi hoang vu đời tôi

Tôi vinh quang như một ngọn cờ

Trên đỉnh dốc gian nan đời tôi.

Thèm biết bao nhiêu bàn tay của mẹ

Hãy về bên con trong giây phút cô đơn.

Thèm biết bao nhiêu bàn tay bè bạn

Xiết chặt tay tôi trong giây phút gian nan.

Thèm biết bao nhiêu bàn tay dù lạ

Níu chặt vai tôi trong giây phút hoang mang.

Tôi cô đơn như một ngọn cờ

Tôi vinh quang như một ngọn cờ.

Trần Tiến ví Đặng Thuỳ Trâm và sự khó khăn gian khổ của cô với một ngọn cờ bị bom đạn bắn nát. Ngọn cờ đứng kiêu hãnh cho dù bị uy hiếp dữ dội, biểu tượng cho thời đại của một thế hệ oanh liệt nhất của Việt Nam .

Để kết thúc, tôi muốn có một vài nhận định rộng hơn về những ca khúc này. Tất cả chúng đều làm vai trò của một hình thức tưởng niệm. Chúng đều bắt nguồn từ một xã hội mà những sản phẩm văn hoá được nhà nước quy định. Hơn nữa, những nhà sáng tạo làm công việc về âm nhạc đều là hội viên của các hội đoàn văn hoá của chính quyền. Mọi ca khúc trên, đều được phát đều đặn trên đài phát thanh và truyền hình Việt Nam , đặc biệt trong ngày lễ kỷ niệm của đất nước; nhiều bài đã giành được giải thưởng quốc gia.

John Bodnar đã nhận định một chức năng của việc kỷ niệm của nhà nước là “làm dịu lại những lo âu về sự đổi thay” (1992, 14). Những ca khúc đầu tiên gợi lên nỗ lực tập thể của đất nước trong cuộc chiến như một ý nghĩa cần được tiếp tục thực hiện trong hiện tại. Bài ca không quên nhắc lại những gian khổ đã qua nhằm vượt qua sự bi quan trước hoàn cảnh khó khăn hiện tại; Vết chân tròn trên cát nói đến những đóng góp của những người trở về từ chiến tranh, dù bị tàn phế nhưng vẫn có thể tiếp tục cống hiến. Trần trụi 87cũng nhắc đến khó khăn và những nỗ lực tập thể của đất nước, nhưng dùng những hình ảnh có thể làm xấu hổ cho những kẻ trục lợi trên mồ hôi xương máu chung.

Những bài hát tiếp sau là những biểu hiện của sự xót thương và tôn kính. Những ca khúc này đều buồn và cảm động, nhưng cũng là sự tẩy rửa muộn phiền đầy sức mạnh. Nói về cuộc đấu tranh chính trị trong công việc tưởng niệm của Mỹ, Bodnar đem sự tranh cãi quanh chuyện Đài Tưởng niệm Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial – www.nps.gov/vivi/) ở thủ đô Washington làm một ví dụ. Ông viết rằng đối với những nhà chức trách, tưởng niệm chỉ đơn thuần xem như “một hiện thân tinh thần của chủ nghĩa yêu đất nước và dân tộc”, trong khi đối với người dân họ xem như “một biểu hiện của tình đồng đội và nỗi buồn chiến tranh” (1992, 15). Mặc dù mong muốn của nhà chức trách có ra sao, ông cho rằng càng ngày chức năng của Đài Tưởng niệm Cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam càng thể hiện theo suy nghĩ của người dân nhiều hơn.

Nhạc sĩ Tân Huyền
Nhạc sĩ Tân Huyền
Trong mọi bài hát Việt Nam tôi đã nhắc đến trên đây, hai nửa theo như phân chia của Bodnar –chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa dân tộc đối trọng với tinh thần đồng đội và nỗi đau - thật hạnhphúc là chúng cùng tồn tại (1992, 9). Đối với bên chiến thắng, một bên mà không cảm thấy băn khoăn hay mắc nợ gì về hậu quả chiến tranh, việc hai nửa cùng tồn tại dường như không có gì khó cả. Tuynhiên, trong quá khứ, những nhà chức trách văn hoá Việt Nam rất nghiêm khắc trong việc loại trừ việc diễn tả nỗi đau buồn (Gibbs 2005). Trong những năm 1980 nỗi buồn đau bị coi như làm xao lãng nhữngnỗ lực tiếp tục (thực tế là không bao giờ chấm dứt) xây dựng đất nước, và phát triển một viễn cảnh xã hội chủ nghĩa quốc tế.

Không chỉ là việc kỷ niệm, những bản chúc thư như Những lá thư gửi từ lòng đấtvà nhật ký như của Đặng Thùy Trâm mang cả chức năng giáo dục. Lớp trẻ được nhắc nhở về một thế hệ đi trước, vốn thiếu thốn quá nhiều nhưng đã được chuẩn bị để trong nhiều trường hợp sẵn sàng hi sinh bất cứ điều gì cho lý tưởng. Những bài hát này, tôi nghĩ chúng phản chiếu những tình cảm được đa số người Việt Nam chia sẻ. Tôi hi vọng thông qua việc giới thiệu những ca khúc này chỉ ra rằng qua thời gian có một mối quan tâm trường cửu trong việc tôn vinh và hiểu được mất mát lớn lao của dân tộc trong một chiến thắng. Niềm tin vào người đã ngã xuống, và với những người còn sống, tiếp tục được dùng để phác nên một niềm tin vào hiện tại và tương lai.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.