Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 03/04/2008 19:27 (GMT+7)

“Nhờ” và “yêu cầu” trong tiếng Việt

1. Đặt vấn đề

Để thấy được hiệu lực ở lời, trước hết phải căn cứ vào các dấu hiệu hình thức của phát ngôn, sau nữa là căn cứ là ngữ cảnh. Một hành động ngôn ngữ, theo Searle, đưụơc nhận diện khi nó chứa một/ một vài dấu hiệu hình thức (IFIDs - illocutionary force indicating devices) sau đây: ngữ điệu; mối quan hệ giữa câu với ngữ cảnh; động từ ngôn hành; các kiểu kết cấu câu đặc trưng (như kết cấu câu cầu khiến, kết cấu câu nghi vấn…) các từ ngữ chuyên dùng (chẳng hạn các đại từ nghi vấn đánh dấu hành động nghi vấn, các từ hãy, đừng, chớ… đánh dấu hành động khuyến lệnh…) J. Lyons cũng từng khẳng định: “ngoài động từ ngôn hành, hiệu lực ở lời còn được đánh dấu bằng một tiểu từ tình thái đặc biệt, bằng một hình thức ngữ pháp đặc biệt, hoặc thậm chí bằng một kiểu ngữ điệu đặc biệt” (Lyons, 1995 tr 250).

Trong bài báo này, chúng tôi muốn xác lập một sự phân định hai hành động cùng nằm trong nhóm Khuyến lệnh (Directives), đó là “nhờ” và “yêu cầu” trong tiếng Việt. Chúng tôi tập trung làm rõ sự khác biệt của hai hành động ngôn từ này theo hai tiêu chí:

-         Tiêu chí về dấu hiệu ngôn hành.

-         Tiêu chí về các điều kiện hành động.

Riêng về dấu hiệu ngôn hành, trong khuôn khổ và điều kiện nhất định của bài viết này, chúng tôi xin không bàn đến ngữ điệu (vốn đòi hỏi những tư liệu thực nghiệm phức tạp).

2. Xác lập hành động “nhờ” và “yêu cầu” trong tiếng Việt

2.1 Đặc điểm chung

Nhờ và yêu cầu là hai hành động phổ biến trong đời sống hàng ngày. Đó là hai hành động mà Anstin và Searle đều xếp vào nhóm khuyến lệnh (directives). Theo Searle, chúng cùng chung những đặc điểm sau:

- Đích ở lời: đặt Sp2 vào trách nhiệm thực hiện hành động tương lai.

- Hướng khớp ghép: Hiện thực - lời

- Trạng thái tâm lí: Sự mong muốn của Sp1.

- Nội dung mệnh đề: Hành động tương lai của Sp2.

Căn cứ vào lập thức của Searle, chúng tôi đối chiếu với tiếng Việt và nhận thấy hai hành động ngôn từ này có những đặc điểm hình thức chung như sau:

a. Đều có thể dùng động từ ngôn hànhđể tạo câu ngôn hành tường minh. Đây là cách dùng trực tiếp nhất. Hiệu lực ở lời được phô bày qua chính vị từ. Chẳng hạn:

(1) Nhờcậu bẩm quan cho tôi vào hầu! (Đồng hào có ma - Nguyễn Công Hoan)

(2) Nhưng có đi phải có lại, tôi yêu cầuông lấy danh dự lời hứa với tôi là sẽ trung thành với nước Pháp! (Vi hành - Nguyễn Ái Quốc).

Vị từ chính của câu đã gọi tên hành động (1) lừ nhờ, (2) là yêu cầu. Đây là những động từ được xếp vào lớp động từ ngôn hành, đúng hơn là những động từ có khả năng ngôn hành. Chúng chỉ có tư cách là dấu hiệu ngôn hành khi tuân thủ các điều kiện khắt khe, đó là – như Austin lí giải - phải được “dùng ở ngôi thứ nhất (người nói Sp1) thời hiện tại (hiện tại phát ngôn) thể (voice) chủ động và thức (mood) thực thi (indicative)” (Đỗ Hữu Châu, 2001, tr 98). Tiếng Việt thuộc loại hình đơn lập, vì thế các động từ thuộc lớp động từ ngôn hành tiếng Việt không được phép đi kèm với các phụ từ hay tình thái từ chỉ thời gian như sẽ, đang, mới, vừa…những từ phủ định/ hàm ý phủ định như không, chưa, chẳng, toan, suýt, chút nữa thì… Những từ biểu thị dự định như định, tính… Những từ biểu thị sắc thái bị động như bị, được, những phó từ chỉ mệnh lệnh như hãy, đừng, chớ.

Tuân thủ những điều kiện khắt khe này, một số động từ nói năng, hay được dùng theo nghĩa chuyển như một động từ nói năng - sẽ trở thành những “vị từ… mà ngay việc sử dụng nó cũng chính là cái hành động mà nó biểu hiện” (Cao Xuân Hạo, 1991, tr 124). Trong trường hợp này, do tính chất trực tiếp, hiển nhiên của nó, Sp2 khó có thể vô tình hay cố ý hiểu sai hành động ngôn ngữ mà Sp1 thực hiện.

b. Đều có sử dụng một số tiểu từ tình thái cuối câuđánh dấu lực ngôn trung. Chẳng hạn:

(3) Cậu gánh gỡ mình ít lúa nhé!

(4) Tắt chuông điện thoại đi!

Tiểu từ đi,mang đến cho câu sắc thái thúc giục. Sp1 mong muốn Sp2 ngay lập tức thực hiện hành động X, bởi Sp1 tin X là hoàn toàn đúng đắn và có tính thời sự, cho dù Sp2 không muốn thực hiện X, hay chưa quyết định có thực hiện X hay không. Thậm chí, tiểu từ này còn phát huy tác dụng ngay cả khi trước đó Sp2 đang thực hiện hành động X nào đó.

Tiểu từ nhécho thấy yêu cầu của Sp1 có vẻ mềm mỏng hơn. Sp1 mong muốn có sự đồng thuận của Sp2 trước khi Sp2 thực hiện X. Trong nhiều trường hợp, nhéđặt cuối câu cho thấy Sp1 buộc lòng phải để Sp2 thực hiện X bởi một lí do khách quan nào đó, chứ thực lòng Sp1 không mong muốn như vậy.

Những tiểu từ tình thái cuối câu như vậy biến lời nói của Sp1 thành một câu ngôn hành tường minh. Sp2 cũng khó lòng lảng tránh những hành động được đề cập đến trong phát ngôn.

c. Đều có thể có các cấu trúc đặc biệt đánh dấu hiệu lực cầu khiếnChẳng hạn

(5) Nói bé thôi kéo( Nếu không thì) người ta nghe thấy lại cười cho!

(6) Tôi đang mắc chút việc, cậu mang bản kế hoạch này lên nộp kéo thủ trưởng phê bình!

Khi dùng cấu trúc kéo/ nếu không thì… Sp1 viện ra một sự tình P gây bất lợi cho Sp2 (hoặc cho cả Sp1 và Sp2) nhằm thúc giục Sp2 nhanh chóng thực hiện hành động X để ngăn chặn P xẩy ra. Cấu trúc này là một trong những IFIDs khiến hiệu lực ở lời của câu được thể hiện ở dạng hiển ngôn.

Có thể thấy rằng so những đặc điểm chung được nêu trên đây, hành động “nhờ” và “yêu cầu” được xếp vào nhóm khuyến lệnh, và sản phẩm ngôn ngữ điển hình của chúng được các nhà ngữ pháp gọi chung là câu cầu khiến. Cho nên, lâu nay, người ta chỉ xem xét: (i) những đặc điểm của câu cầu khiến nói chung (với tư cách là một kiểu câu, đối lập với ba kiểu câu còn lại là trần thuật, nghi vấn và cảm thán); (ii) nhóm cầu khiến/ hay khuyến lệnh n ói chung (với tư cách là một trong năm nhóm hành động ngôn từ, theo cách phân loại của Austin và Searle) chứ ít quan tâm đến việc đối chiếu, xác lập những hành động cụ thể của nhóm này.

2.2 Nét cá biệt:

Vì cùng thuộc một nhóm hành động nên sự khác biệt của hai hành động này không thể hiện rõ nét. Điều đó khiến việc xác lập chúng không hề dễ dàng. Trên cơ sở những tư liệu thu được, chúng tôi thấy có thể nêu ra những nét khác biệt như sau:

a. Về điều kiện chuẩn bị của hành động (2).

- Cương vị của Sp1 và Sp2: khi thực hiện hành động ngôn ngữ, bao giờ Sp1 và Sp2 cũng phải ý thức được địa vị xã hội của mình và người đối thoại. Địa vị xã hội được xác lập do tuổi tác, chức quyền, nghề nghiệp, quan hệ thân tộc… Đối với người Việt, tuổi tác là yếu tố quan trọng hàng đầu. Một người dù giữ chức vụ quyền xã hội cao đến đâu cũng luôn phải cư xử, nói năng cho lễ phép với người cao tuổi hơn mình nếu không muốn bị coi là thất lễ.

Khi yêu cầu người khác làm gì, Sp1 phải đặt mình ở vị thế cao hơn Sp2. Nếu Sp1 ở cương vị thấp, hành động yêu cầu của Sp1 bị coi là hỗn xược và dĩ nhiên, không bao giờ hành động này thành công. Sp1 có thể lấy tư cách cá nhân (xem (6)), cũng có thể đại diện cho một tập thể (xem 2, 4).

Ngược lại, khi nhờ, vị thế của Sp1 phải thấp hơn hoặc bằng Sp2. Cho dù địa vị xã hội của Sp1 cao đến mấy, lựa chọn cách nhờ, nghĩa là bằng cách này hay cách khác, Sp1 đã tôn Sp2 lên một bậc. Chẳng hạn, ông nói với cháu:

(7) Cháu lấy giúp ông chén nước!

Ai là người có thể làm giúp? Đó phải là người có lòng tốt. Quan trọng hơn, người đó phải có năng lực thực hiện X cao hơn Sp1 trong thời điểm hiện tại. Nhiều khi, Sp1 còn đề cao tầm quan trọng của Sp2 đến mức coi Sp2 là người duy nhất có khả năng thực hiện X (xem (9)). Còn Sp1 thì thành kẻ trông chờ vào sự giúp đỡ của Sp2 (Sp1 ở thế yếu). Khi nhờ, Sp1 thường lấy tư cách cá nhân, nên công việc X cũng mang tính cá nhân.

- Quyền từ chối của Sp2:

Khi được (bị) nhờ, Sp2 thường nể Sp1 mà nhận lời làm X. Nhưng đôi khi, Sp2 có thể viện vào khả năng hiện tại như điều kiện thời gian, năng lực, kinh tế… để từ chối. Nhìn cung khả năng từ chối của Sp2 là có, nhưng ít.

Khi bị yêu cầu, Sp2 bằng mọi cách phải thực hiện X, bởi Sp1 đã lấy quyền của kẻ bề trên mà buộc Sp2, không quan tâm đến khả năng hiện tại của Sp2. Chối bỏ yêu cầu của Sp1, Sp2 sẽ tự chuốc lấy rắc rối cho mình. Với hành động này, Sp2 không có quyền từ chối.

- Chiến lược hành động:

Khi nhờ, Sp1 tác động vào lòng tốt của Sp2, khiến Sp2 cảm thấy “bùi tai”. Nghĩa là Sp1 đã đánh vào mặt tình cảm của Sp2. Vì nể Sp1, Sp2 nhận lời và khi X phù hợp với khả năng của mình, Sp2 sẵn sàng thực hiện với thái độ vui vẻ.

Ngựơc lại, khi yêu cầu, Sp1 đánh vào lí trí của Sp2 bằng cách lấy uy của kẻ bề trên để sai khiến. Dù thấy khó chịu, nhưng Sp2 vẫn buộc phải thực hiện X, thậm chí còn phải hoàn tất X một cách nhanh chóng nhất.

- Người hưởng lợi:

Trong cả hai hành động này, Sp1 đều là người có lợi. Dĩ nhiên, lợi ích có thể trực tiếp thuộc về cá nhân Sp1 (trong hành động nhờ), cũng có thể thuộc về tập thể mà Sp1 đại diện. Ý thức được điều này, Sp1 chỉ quan tâm đến kết quả và thời gian nhanh nhất mà Sp2 có thể đáp ứng, không quan tâm đến việc Sp2 thực hiện X bằng cách nào.

Như vậy, có thể tóm tắt điều kiện thành công của hai hành động này như sau (hình 1).

b. Một số đặc điểm hình thức của phát ngôn “nhờ” và phát ngôn “yêu cầu”

b.1 Trong hành động nhờ, ta thường gặp các dấu hiệu sau:

- Sự xuất hiện của các động từ giúp, giùm, hộmột cách linh hoạt trong những câu có kết cấu cầu khiến, chẳng hạn:

(8)… anh đào giúp emmột cái ngách sang bên nhà anh phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy sang… (Dế mèn phiêu lưu kí - Tô Hoài).

(8’)… anh giúp em đàomột cái ngách sang bên nhà anh, phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy sang…

(8’’) … anh đàomột cái ngách sang bên nhà anh giúp em,phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy sang.
- Sự xuất hiện của ĐTNH trong cấu trúc trăm sự nhờ … (thực hiện X).

(9) Trăm sự nhờbác bảo ban cháu nó giúp vợ chồng em!

b.2 Trong hành động yêu cầu, thường gặp nhất là thành phần thôi thúc ngay, ngay lập tức...trong các cấu trúc:

- Yêu xầu Sp2 thực hiện X ngay!

- Hãy X ngay lập tức (cho Sp1).

(10) Gọi mấy thằng phu đào ngaycho tao một cái hố trước cái điếm này! (Vỡ đê – Vũ Trọng Phụng).

Ngoài ra, cấu trúc câu cầu khiến chỉ có vị từ cũng dễ được Sp2 hiểu là hành động yêu cầu. Tuy nhiên, trong trường hợp này, ranh giới giữa hành động yêu cầu và ra lệnh tỏ ra mờ nhạt. Cần thận trọng khi phân biệt bản chất của chúng.

Như vậy, xét về hình thức, hành động nhờ luôn có các dấu hiệu tỏ rõ sự trông đợi của Sp1 vào lòng tốt của Sp2, trong khi hành động yêu cầu luôn có các dấu hiệu làm tăng tính cưỡng ép, bắt buộc. Đó là những IFIDs tiếng Việt đánh dấu hiệu lực ở lời của chúng, giúp phân biệt chúng với nhau.

Cho nên, tuy đều là những hành động thuộc nhóm khuyến lệnh, nhưng về thực chất, đây là hai hành động ngôn từ khác hẳn nhau. Có điều trong thực tế, biểu hiện của hai hành động này rất đa dạng, đôi khi dễ gây nhầm lẫn. Chẳng hạn, trường hợp hai loại hành động này dùng chung một số dấu hiệu ngôn hành:

(11) Chú làm gấp bảng lương tháng 3 giúp cháu nhé!

(12) Tránh ra cho tôi nhờ!

Căn cứ vào dấu hiệu giúp, nhờ, người ta cho rằng đây là hành động nhờ. Thực tế cho thấy, ở (11), khi muốn Sp2 thực hiện hành động X có lợi cho tập thể, và thừa biết Sp2 không có khả năng từ chối, Sp1 (ở quyền hạn xã hội cao hơn) hoàn toàn có thể yêu cầu. Song như đã nói, với người Việt, để tỏ ra tôn kính Sp2 ở bậc cha chú,Sp1 thường mượn hình thức nhờ nhằm làm giảm tính cưỡng chế, giảm tính xâm phạm thể diện. Đó là sự khéo léo của những người trẻ tuổi đứng đầu một tổ chức nào đó.

Với (12), tình hình lại khác. Dùng cấu trúc “X cho Sp1 nhờ”, Sp1 cho thấy mình đang cố gắng nén sự khó chịu trước một khiếm khuyết nào đó của Sp2, nghĩa là Sp2 ở thế yếu hơn Sp1. Thêm nữa, khả năng từ chối của Sp2 vô cùng ít; Sp1 dùng lí trí tác động vào lí trí của Sp2, đặc biệt nhấn mạnh vào tốc độ của hành động vì cho rằng mình sẽ bất lợi nếu Sp2 không thực hiện X ngay tức khắc.

Trên đây là những kết quả bước đầu trong quá trình xác lập các hành động ngôn ngữ thuộc cùng một nhóm. Chắc chắn sẽ còn những dấu hiệu hình thức khác thể hiện hai hành động này mà chúng tôi chưa có điều kiện nêu ra. Việc nghiên cứu các hành động của nhóm nhằm nhận diện và phân biệt chúng hứa hẹn rất nhiều lí giải thú vị, góp phần từng bước xây dựng hoàn thiện và sâu sắc lí thuyết về các hành động ngôn từ nói chung.

Tài liệu tham khảo

(1)    Austin J.L - How to do things with words, Cambridgem Haward University Press, 1962.

(2)    Anna Wiezbicka - English speech act verbs, Academic Press Australia, 1987.

(3)    Cao Xuân Hạo - Tiếng Việt, sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb KHXH TP HCM, 1991.

(4)    Đỗ Hữu Châu - Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, GD 2001.

(5)    LyonsJ.L – Linguistic Semanticts, Cambridge University Press 1995.

Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, 4 - 2007, tr 5

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.