Nhớ lại ngày giải phóng Thủ đô 50 năm trước
Sau Hiệp định Genève (7- 1954)
Sáng 8-10-1954, trong vai trò thường dân , tôi từ Ngọc Hồi, quê bố mẹ nuôi thời kháng chiến, "lên" Hà Nội, nơi đã gắn bó ba đời với đại gia đình tôi (từ đời ông nội -ngoại). Trời mưa tầm tã. Đến Đuôi Cá vẫn còn một đại đội lính Tây mặc áo mưa nhựa xanh nằm toài người lăm lăm súng gác ở ngã ba. Tôi đi theo dân (qua đường Trương Định nay) lọt về Hoàng Mai - Chợ Mơ (đấy là đoạn đường thiên lý cổ khi xưa) và vào nội thành Hà Nội. Mẹ tôi đã vào Hà Nội trước, liên lạc với các cô, dì quyết tâm ở lại Hà Nội với Cụ Hồ. Có khoảng một nửa gia đình bên ngoại tôi di cư vào Nam. Dòng người di cư ấy vẫn từ phía Nam lên Hà Nội rồi xuống Hải Phòng, nơi "tập kết 300 ngày". Ngày 9, thày Giàu và các giáo sư của tôi đã về ở Tông Đản chờ ngày mai tiếp quản Đại học. Đại học Văn khoa và Luật khoa chỉ còn lại vài thày: Thày TS Cương (sau dạy tôi về địa lý và luật kinh tế thế giới), thày Đoàn Phú Tứ (sau Giải phóng, thôi việc hẳn ở Đại học). Và cụ cử nhân Hán học Trần Lê Nhân, người. đỗ đồng khoa với ông nội, ông ngoại tôi khoa thi Trường Nam 1897...
Ở Dự bị Đại học Thanh Hóa, tôi vẫn là ủy viên Thường vụ Hiệu đoàn phụ trách văn nghệ. Cần có đoàn ca nhạc học sinh, sinh viên để sáng ngày 10-10 ra Bờ Hồ Gươm đón "đại quân ta tiến vào giải phóng Thủ đô". Mẹ tôi đã kịp may cho tôi hai bộ quần áo “thanh niên Hà Nội” khi đó: quần kaki, áo pô-pơ-lin và đôi dép da để trút bỏ đôi dép lốp quai râu. Suốt ngày 9-10, tôi len lỏi đến thăm các gia đình nội ngoại quen biết, kể cả các gia đình họ hàng của bố mẹ nuôi. Gặp được nhạc sĩ Tu Mi cạnh nhà. Gặp chị Tú, chị Tâm (sau đều là cán bộ Thành đoàn và Hội Liên hiệp Thanh niên Hà Nội). Gặp được anh Nguyễn An Lịch cháu mẹ nuôi tôi, học sinh chuyên khoa, hoạt động bí mật ở nội thành (sau anh Lịch vào học Khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội và trở thành Phó Giáo sư Xã hội học. Chính anh Lịch sau này lại phải đứng ra chứng nhận tôi là cán bộ Học sinh sinh viên kháng chiến !)... Nhà nào cũng chuẩn bị cờ đỏ sao vàng để ngày mai treo rợp phố phường Hà Nội... Nhưng các tối ngày 8, ngày 9 nhà nào cũng treo xoong, nồi nhôm, chậu thau đồng để khua gõ báo động khi có bọn "hôi của" nhân "tranh tối tranh sáng" lúc ta - Pháp bàn giao đề đột nhập vào các nhà dân làm bậy. Những tối đó (và trước nữa), cổng nhà nào nhà nấy đều đóng im ỉm. Tôi vào nhà quen, giật chuông chờ ở cổng sắt khá lâu, phải có người ra hé cái cửa nhỏ trong cổng nhận mặt, cật vấn rồi mới cho vào (hoặc không cho vào).... Tôi đi trên hè đường vắng ngắt lần đến Đại học Đông Dương ở đường Lê Thánh Tông, ra Nhà hát lớn, đến Bảo tàng Louis Finot (nay là Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam), ngược lên cầu Long Biên. Chiều muộn, những người lính Pháp cuối cùng rút qua cầu đi về phía Gia Lâm...
Đêm 9-10 gần như là một đêm không ngủ. Tôi có "chỗ ẩn" rất tốt ở phố Yết Kiêu, rất gần nhà anh Văn Cao sau này. Bên kia đường Nguyễn Thượng Hiền cũng có nhà quen. Một đêm tâm sự dài dài sau 9 năm xa cách. Tôi xa Hà Nội khi mới tròn 12 tuổi. Thuở ấy nhìn cái Ga Hàng Cỏ, nhìn Nhà hát lớn, nhìn các "đại lộ” Carreau (Lý Thường Kiệt), Gambetta (Trần Hưng Đạo)... thấy cái gì cũng lớn. Nay trở lại, tuổi gần 20, lại thấy cái gì cũng nhỏ hay vừa vừa thôi. Hóa ra là tôi "đo" cái khách thể bằng chủ thể chiều cao của mình, gang tay của mình.
Sáng 10-10, chúng tôi dậy rất sớm. Ăn sáng bát phở gánh đầu phố, ngon như chưa từng bao giờ được ăn rồi vội vàng đi bộ lên Bờ Hồ. Những đường phố còn rất ít xe đạp, không có xe máy, vỉa hè thênh thang...
Chỗ chúng tôi đang đón "đại quân ta" là ở bên đài phun nước - Quảng trường Đông Kinh Nghĩa thục, phía nhà "Hàm Cá Mập" bây giờ. Bạn đọc có thể đến Triển lãm Tràng Tiền hôm nay xem các ảnh cả tư nhân, cả phóng viên chụp lũ học sinh sinh viên trẻ chúng tôi, với đủ mọi thứ đàn giây, kèn sáo, anh Tu Mi ôm cây ghi-ta, đeo kính cận, có lúc "bốc" qua tràn cả ra đường, khiến các "trật tự viên" tự nguyện đeo băng đỏ tươi cười mà kiên quyết đẩy lùi, để đại quân hùng dũng bước trên đường từ Hàng Bông đi một vòng nửa Hồ Gươm qua Tràng Tiền rồi Lê Thánh Tông, Phan Chu Trinh về phía Nam...
Đủ các bài ca yêu nước cất lên, song âm hưởng chủ đạo cố nhiên là thuộc về bài "Tiến về Hà Nội" của Văn Cao:
Trùng trùng quân đi như sóng
Lớp lớp đoàn quân tiến về
Năm cửa ô đón mừng...
Hà Nội bừng Tiến quân ca.
Bài này Văn Cao viết năm 1950, phục vụ Tổng phản công. Năm năm sau, nó mới trở thành sự thật gần như Văn Cao tưởng tượng, hình dung!
Toàn dân Hà Nội mải mê đón quân về Giải phóng Thủ đô. Không một tiếng súng. Sau đó ít lâu, Đại tướng Tổng tư lệnh đến "Việt Nam học xá" (ở Bạch Mai) thăm và nói chuyện với sinh viên chúng tôi. Lúc này phu nhân Đại tướng, chị Đặng Bích Hà đã trút bỏ bộ quân phục mang quân hàm trung úy về làm sinh viên năm thứ nhất Đại học Sư phạm Văn khoa (sau chị trở thành PGS Sử học).
Đại tướng nói một câu mà tôi cái nhớ mãi: " Giải phóng Điện Biên là để giải phóng Thủ đô!"
Mê mải và say sưa là chính khí Hà Nội ngày Giải phóng Thủ đô.
Tôi bỏ cơm trưa, xế chiều về đón mẹ lên “đường Cột Cờ" (Điện Biên Phủ nay) và "Vườn hoa Canh Nông" quen thuộc của mẹ con tôi mỗi chiều hè ngày trước - Nay là vườn hoa có tượng V.I.Lê nin - để chiêm ngưỡng Quân đội nhân dân làm lễ thượng cờ lên đỉnh Cột Cờ với anh hùng lừng danh Nguyễn Quốc Trị. Đông nghịt người. Suýt lạc mẹ.
Từ sau đó. tôi hoạt động trong khuôn khổ Hội sinh viên toàn quốc của Lê Quang Toàn, Thành đoàn Thanh niên Cứu quốc của Vũ Quang và Hội Liên hiệp Thanh niên Hà Nội của Lê Tám. Và vẫn chỉ làm một việc: phụ trách Văn nghệ sinh viên, ủy viên Ban Cán sự Thanh niên Cứu quốc (sau là TNLĐ) các trường Đại học. Số sinh viên các trường Đại học lúc đó: Y, Dược, Sư phạm khoa học, Sư phạm Văn khoa (bỏ Luật khoa, thật đáng tiếc). cả "sinh viên kháng chiến" và "sinh viên ở lại trong Thành", theo tôi nhớ, là chưa đầy 400.
Từ sau vụ Nhân văn – Giai phẩm 1957-58, tôi được thôi cộng tác TNSV. Năm 1960, hết tuổi Đoàn (thời đó quy đinh là 26 tuổi). Việc chính là dạy học, nghiên cứu cổ sử Việt Nam và chuẩn bị thành lập bộ môn mới tinh duy nhất toàn quốc là môn Khảo cổ học...
50 năm nhìn lại, nửa vui nửa. buồn. Mà tôi thường tự nhận là người "lạc quan - buồn".
Vui, về số trường đại học, số ngành học nay có tới hàng trăm, và sinh viên Hà Nội là con số chục vạn trở lên, trong đó tôi đã góp phần thành lập ngành Văn hóa học và Du lịch học ở Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vui vì "Trận Điện Biên Phủ trên không" đại thắng 12-1972 dẫn tới Hiệp định Paris(1973) rồi dẫn tới giải phóng miền Nam (1975). Cho dù trong 12 ngày đêm khói lửa hạ B52 ở Hà Nội, tôi lại mất một người chị thân yêu (dược sĩ, bệnh viện Bạch Mai) và mất sạch nhà cửa, của cải ở Khâm Thiên.
Vui, vì sau thời Đổi mới (1986), ta đã thoát khỏi cơ chế quan liêu bao cấp, đi vào cơ chế thị trường có định hướng "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Vui, vì cho đến 1954, Hà Nội không vượt thoát vành đai La Thành - Đại La Thành 30km cổ truyền. Nay thì Hà Nội đã tràn ra bốn phương tám hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đô thị hóa - công nghiệp.hóa, dịch vụ hóa v.v...
Buốn vì giáo dục, văn hóa, đạo đức...: nhiều mặt xuống cấp nghiêm trọng. "Văn hóa lãnh đạo, "Văn hóa kinh doanh"... chưa ngang tầm khu vực, huống chi muốn "sánh ngang cùng thế giới năm châu”. Di sản văn hóa bị xói mòn nhiều.
Buồn vì tham nhũng tràn lan thành quốc nạn.
Buồn nhất là sự phân hóa xã hội ngày càng cao một cách bất thường. Hà Nội không có nổi một chuyên gia xuất chúng về quy hoạch. Xây dựng khá lung tung. Kiểu thức kiến trúc nhiều nơi "nhăng nhố”.
Có người bạn miền Nam bảo tôi:“Sức mấy mà buồn! Nhậu đi ông”. Thì biết vậy!Nguồn: Tạp chí Xưa & Nay, chungta.com (04/10/2006)








