Nhị Thanh cư sĩ
Ngô Thì Sĩ tự là Thế Lộc Phủ, hiệu là Ngọ Phong, đạo hiệu là Nhị Thanh cư sĩ, sinh năm Bính Ngọ, niên hiệu Bảo Thái (1726) (năm thứ 22 Lê Dụ Tông). Thuở nhỏ ông rất thông minh, đĩnh ngộ. Cha ông là Ngô Thì Ức, một danh nho có tiếng lãng mạn trong làng nho. Một người chỉ tâm đắc với chữ nhàn, đổi lại là mái nhà tranh, áo vá, cơm hẩm, canh rau, mà được vui chơi thoả thích, ngao du đây đó cùng với bầu rượu túi thơ, hỏi Đào Nguyên chốn nào?
Cất nhà ven giải trường giang
Chiều chiều nắng quái còn vương bên thềm.
Cá tôm đổi rượu uống chơi,
Gió trăng, nong túi thơ vơi lại đầy.
Lưới giăng bên sở quang mây,
Câu buông vào lúc tối ngày sông Ngô.
Nhà sàn một tiếng mưa xô,
Xuân sang đầu bến xướng thơ ba bài.
Khúc ca hồ tử ngâm dài,
Vẳng theo sóng, viếng đám người can xưa
Xem kìa sắc lá sau mưa,
Trông kìa, ngấn cát, triều vừa rút lui.
Cưỡi kình rỡn sóng chơi vơi,
Tiêu giao mộng hạc, mơ hoài người tiên.
Trên sông Xích Bích, rời thuyền,
Nghẽn đường, biết hỏi Đào Nguyên bến nào? (1) (*).
(Ngư gia)
Sự thật hiển nhiên không phải vì yếm thế lánh đời, không phải vì bất đắc chí mà ẩn dật, mà chỉ là vì tính ông hồn nhiên, cởi mở, nhà ông bạn bè thân thiết lui tới thường xuyên nhất là bạn làng nho khi chén rượu lúc cuộc cờ, bình văn, bình thơ phú, ngắm hoa, vẽ tranh thuỷ mạc nguệch ngoạc chơi, ngày thường hoà nhập với xóm làng làm vườn, ra đồng thăm lúa, cùng nhau vỡ rậm khai hoang bờ bãi bến sông, chuyện trò rôm rả chuyện hái dâu, chăm tằm, chuyện mưa gió, nắng hạn... Tâm hồn thi sĩ đầy lãng mạn này đã ảnh hưởng ít nhiều đến định hướng sự nghiệp của Ngô Thì Sĩ về sau.
Rất tiếc cho ông, cha mất khi Ngô Thì Sĩ 11 tuổi. Ông nội là Đan Nhạc mang ông đến nhiệm sở để rèn cặp, dạy dỗ. Trước tiên buộc ông ghi nhớ về: “Đức được yên ổn, tức là kế thừa được cái phúc của tổ tiên xưa”. “Họ Ngô ta tươi tốt, thịnh đại, là do tự tổ tiên ta khởi phát, đó là dốc lòng làm điều thiện”. Sau rồi mới dạy văn dạy chữ, ông học sáng dạ, hơn hẳn những trẻ em cùng lớp. Sau theo học Nghiêm Bá Đĩnh, ở làng Tây Mỗ (đỗ tiến sĩ năm 1733), rồi Nhữ Đình Toản, người làng Hoạch Trạch (đỗ tiến sĩ năm 1736) đó là hai vị danh nho đương thời, ông học tập ngày một tấn tới, càng sâu rộng, uyên thâm.
Năm Quí Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng (1743), 17 tuổi, đậu giải nguyên.
Là bậc túc nho, một thời gian dài làm việc trong phủ Chúa, với chức quan nhỏ Thiêm tri Công phiên, Chúa rất tin dùng, có lần đặc triệu của ấn vương (Chúa Trịnh Doanh) vào nội các cùng các quan văn, làm bài phú Quan Phu Tử, rất được tán thưởng. Từ đó, có lần theo Chúa tiếp sứ thần phương Bắc, còn thường thường theo ngự giá được ngồi cùng hàng với các quan trong triều, áo vải mà tao ngộ với phẩm phục đương thời thật là hiếm có. Ở trong phủ Chúa, ông thường hay tiếp xúc gặp gỡ giao tiếp với thế tử Trịnh Sâm là bậc văn võ cao thâm. Thế tử rất coi trọng tài năng ông, lại càng quý trọng phong cách và đức độ của ông, thái tử với ông ngày càng thân mật, mất sự ngăn cách lúc nào không hay.
Cảnh nhà Ngô Thì Sĩ nghèo, nghèo thực sự, thiếu thốn đến cả cái bát cơm manh áo, với chức quan nhỏ, ông chẳng thể làm gì đóng góp để giúp vợ con, bản chất hàn nho cực đoan khảng khái chẳng nhận sự nâng đỡ của ai.
Ông có người vợ yêu rất tâm đầu ý hợp, một người vợ hiền, đức hạnh, tần tảo, đảm đang, một thân một mình, chăm lo cho chồng, cho con đủ ăn, đủ mặc, động viên giúp đỡ con học hành siêng năng, để chồng được yên tâm. Ông biết rõ điều đó, vì thế ông trở nên trầm tư, trong lòng thì buồn rầu, ông hiểu bà đang thâm mong ông ra ứng thi được đỗ cao để vinh quy bái tổ, làm rạng rỡ thêm cho dòng họ Ngô Thì đã có bề dày thi thư khoa bảng, làm tấm gương cho các con noi theo, những người con đang lộ rõ tài năng và hoài bão lớn lao của mình.
Học trò nhà nghèo theo bút nghiên
Cha mẹ, vợ con nhịn cơm áo.
Ba năm đến dự kỳ thi hương,
Cha mẹ trông con; vợ ngóng chồng (*) (1).
.........
Năm Bính Tuất (1766) ông ra ứng thí. Vào thi Hội ông đỗ đầu, vào thi Đình ông đậu hoàng giáp, Đình nguyên. Do cương vị được tiến triều, lại đỗ cao nên đặc gia một cấp, Đông các hiệu thư, bổ nhiệm Hiến sát sứ Thanh Hoa. Trong hạt phong cảnh có đồng quê với đàn cò trắng bay lượn, có núi cao, suối reo, làm cho tâm hồn ông vui vẻ lâng lâng. Ông làm chòi trên núi, dưới có dòng sông vào mùa thu nước chảy trong veo, mỗi khi xong việc quan, hay lúc rỗi rãi ông lại đến nơi đây đắm chìm vào cõi thinh không nghe tiếng lá reo, chim hót, rõi theo đám mây ngàn lững lờ trôi men đỉnh núi, hưởng cơn gió thoảng mang theo hương hoa núi rừng, lòng ông rung cảm thoả nỗi khát khao.
Việc chính sự ông giải quyết đơn giản, lấy cái đức mà làm gương. Pháp trị ông áp dụng nhẹ nhàng uyển chuyển. Ông thanh liêm nhưng lại rất thân tình, làm các bậc cường hào phải hối cải. Kiện tụng giảm đi rất nhiều. Hàng sĩ lưu rất ái mộ thanh danh ông, cùng nhau làm lễ xin nhập học, sau này đa số được thành đạt.
Năm Canh Dần (1770) ông thăng chức Đông các đại học sĩ. Lại bổ nhiệm Tham chính xứ Nghệ An. Năm Tân Mão (1771) có khoa thi hương, khi xét khảo hạch, bọn đương quyền nhờ ông nương tay một số trường hợp, khi ông chấm đến văn bài thấy kém không đáng đỗ, ông đánh hỏng. Bọn đương quyền hận ông, làm sớ tâu với triều đình vu cáo ông. Chúa Trịnh Sâm ở ngôi Chúa đã 5 năm, Chúa nhớ lại khi là thế tử còn ở cung Tiềm Đế với ông thân thiết là thế, khi được bổ dụng làm quan ở ngoài, tình nghĩa phân chia cách biệt, mà nay đợi mãi không thấy lời tấu bày. Ngài rất giận, không đợi tra hỏi, không cần bàn bạc, cách chức làm dân thường.
Trở lại quê nhà, tâm hồn ông nhẹ nhàng thanh thoát như không. Ông lấy việc đọc sách, soạn sách, làm thơ phú mà lòng thật vui, học trò đến xin học, ông lại mở trường thu nhận. Thời ấy có người cho ông là kiêu ngạo, ngông cuồng, phóng đãng, dèm pha với Chúa. Trịnh Sâm biết bản tính của ông, không hề trách gì mà cử quan Trung sứ đưa cho ông tập Bình Nam nhật lịch(Cuộc hành trình hàng ngày bình định phương Nam). Ông vâng chỉ biên tập dâng lên ngự lãm. Từ đó về sau, những giấy tờ do ngự chế đều mật gửi cho ông nhuận sắc. Năm 1775, ông được phục chức Hàn lâm hiệu lý, vài tháng sau thăng chức Thiêm đô ngự sử. Năm Bính Thân 1776 vâng chỉ hiệu đính bộ Quốc sử. Năm 1777 bổ nhiệm chức Đô trấn xứ Lạng Sơn. Vợ ông mất trong dịp này làm tinh thần ông có phần suy sụp.
Thương nhớ mà chi; buồng để lạnh,
Cõi trần, thôi một thoáng mơ màng;
Sao bằng tính kế muôn năm nữa.,
Phần mộ nương nhau, ngát khói hương *
........
Ông không lấy vợ kế, việc trong nhà uỷ thác hết cho quản gia. Những đêm dài đọc sách không lấp nổi nỗi cô đơn, trong lòng ông trống trải luống những bâng khuâng.
Tiếng trống cầm canh vẳng dưới trăng
Sầu xuân, nỗi khách luống bâng khuâng
Bên song, trẻ nhỏ hầu nghiên bút
Đêm vắng, u già soạn chiếu chăn.
Vạn dặm, đường xa còn cách trở,
Ba canh, gối lẻ dạ tơ vương.
Người thương nay ở nơi nào nhỉ?
Nhớ lại lời xưa, úp chén vàng (*).
Sau tang vợ, ông đến xứ Lạng Sơn thấy thành quách cũ không được đắc địa, địa thế đất trũng kiêng kỵ cho việc bố phòng. Ông vốn thông hiểu rất nhiều về mọi lĩnh vực như: phong thuỷ, âm dương, thành quách, địa chính, dân chính, trấn thú, địa sản, phong tục, không có gì là không sâu sắc, tinh tế.
Ông dời binh lên núi Lộc Mã mà đồn trú. Xứ Lạng Sơn vừa qua hạn hán mất mùa đói kém, dân bỏ đi nơi khác nhiều. Ông tìm cách khôi phục, khuyến nông, thông thương buôn bán, nới sức dân, giảm thuế khoá, phu dịch. Ngăn cấm quan lại sách nhiễu dân cho dân dễ thở để kinh tế phát đạt, làng xóm trở nên đông vui thịnh vượng dần. Sau này khi ông đã mất, mà dân còn nhớ cả cây ngô đồng ông đã nghỉ ngơi ở dưới gốc cây ấy. Gần tỉnh lỵ có động Bắc Nham ít người lui tới, ông phát hiện vẻ đẹp thần kỳ của động, cho phát quang đường vào động, chỉnh sửa lát đá lối vào, tạc tượng đề thơ vào vách động. Có lẽ vì xa quê nhà, ông lấy hai chữ đầu của huyện, làng (Huyện Thanh Oai, làng Tả Thanh Oai) mà đặt tên là Nhị Thanh. Ông có tập thơ Nhị Thanh động tập, lấy đạo hiệu là Nhị Thanh cư sĩ, rằng có chí hướng muốn tròn tuổi già ở núi này.
Ngày 17 tháng 9 năm Canh Tý (1780) sau khi xong việc công ở Nam Quan, khi về qua ông ghé vào động nghỉ rồi ngủ thiếp ở trước tượng mình khoảng nửa canh giờ, tỉnh dậy thân thể thấy khó chịu bèn về dinh đóng cửa không tiếp khách, không làm việc quan, đến ngày 25 bệnh bớt lại tựa gối xem sách, nói chuyện tự nhiên với khách với người hầu tới nửa đêm thì mất. Báo tang về Kinh, Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm rất thương xót, truy tặng ông Lạng Sơn Thừa Chính Sứ, truy tặng Hộ Bộ Hữu thị lang, đặt tên thuỵ cho ông là Ôn Bác.
Giang sơn đất nước Việt Nam từ xưa đến nay những người như Ngô Thì Sĩ thời nào cũng có. Ông là thân phụ của Tiến sĩ Ngô Thì Nhậm cận thần vua Quang Trung, giúp vua đánh đuổi quân nhà Thanh xâm lược giành thắng lợi, thống nhất giang sơn cuối thế kỷ thứ 18 và Ngô Thì Trí là nhà thơ, nhà sử học, tác giả tác phẩm Hoàng Lê nhất thống chínổi tiếng.
Dưới triều vua Quang Trung ông được phong là Thượng đẳng phúc thần, với ba cặp chữ: Khuông Vận, Phù Đạo, Xương Trạch.
____________
1. Một số tác giả và tác phẩm trong Ngô gia Văn phái: Ty văn hoá – thông tin Hà Sơn Bình xuất bản, 1980.
* Tham Tuyền dịch.
* Băng Thanh dịch.
2. Ngô Thì Sĩ, NXB Hà Nội, 1987, tr. 88.
* Băng Thanh dịch.
* Trần Lê Văn dịch thơ.
Nguồn: Xưa & Nay, số 259,5/2006, tr 29 - 31







