Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 21/08/2007 00:48 (GMT+7)

Nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài: Về nước hay “nằm vùng”?

Phải “giữ ghế” tại các nước phát triển

GS Lê Tuấn Hoa (Phó Viện trưởng Viện Toán học) phân tích vấn đề “về hay ở” trong hai tình huống.

Theo ông, nếu chưa có được công việc ổn định hoặc vị trí tốt ở nước ngoài thì nên về nước, sẽ có lợi cho cả 2 bên, cả đất nước và chính người đó. Về nước, nhà khoa học Việt Nam sẽ dễ dàng hơn trong việc kiếm học trò, tạo nhóm nghiên cứu.

Nhưng ông cũng nhấn mạnh rằng, nếu có 1 lực lượng nhà khoa học Việt Nam ở lại các nước phát triển sẽ làm cầu nối vững chắc cho nền khoa học nước nhà.

Khi ở lại, họ có nhiều cơ hội để phát triển công trình nghiên cứu lớn của riêng mình. ”Trước kia chúng ta không có công trình đăng trên những tạp chí lớn thì hiện nay lác đác đã có những tên tuổi Việt Nam trên những “vùng cấm” vốn chưa từng đặt chân đến” - ông nhận định.  

Đồng thời, nhờ có GS Việt Nam“nằm vùng” tại các trường ĐH lớn mà  SV và nghiên cứu sinh (NCS) Việt Nam có điều kiện sang học ở những trung tâm tốt nhất trên thế giới.  

Đồng tình với ý kiến này, GS Phạm Hữu Tiệp (ĐH Florida, Mỹ) chia sẻ thêm rằng, mỗi khi tiếp nhận hồ sơ của NCS Việt Nam, đầu tiên ban xét tuyển của trường sẽ hỏi 1 số GS Việt Nam ở trường và dựa vào sự tiến cử của GS đó để xem xét. Các GS sẵn sàng dùng uy tín của mình để đảm bảo cho SV Việt Nam đi học.  

“Muốn phát triển nền khoa học nước nhà, trước tiên chúng ta phải xác định mình đang đứng ở đâu trên bản đồ thế giới. Hiện nay, số người Việt Nam đang làm việc ở các trung tâm hàng đầu thế giới là con số rất khiêm tốn, người có vị trí ổn định không nhiều. Muốn nền khoa học của ta đi lên thì con số đó phải tăng lên” – TS Lê Minh Hà, người đã từng nhận bằng tiến sỹ tại Mỹ và về làm việc ở ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG Hà Nội) 2 năm nay, nhận định.

Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân cũng khẳng định: “Chúng ta cần xây dựng tiềm lực khoa học cả trong và ngoài nước. Những người Việt Nam ở nước ngoài chỉ về luân phiên chứ không bỏ chỗ trống cho các nước khác “nhảy vào”. Phải có ý thức “giữ ghế” của khoa học Việt Nam trong các nước phát triển”. 

“Học xong tiến sỹ mà về nước ngay là sai lầm”

Đó là kinh nghiệm của TS Lê Minh Hà, rút từ trường hợp của bản thân và cả của người bạn đời cũng lấy bằng tiến sỹ tại Pháp và cùng về Việt Nam với anh. TS Hà cho rằng, đối với những người theo con đường nghiên cứu, sau khi lấy được bằng tiến sỹ ở nước ngoài, nên ở lại một thời gian để trau dồi thêm kiến thức và kinh nghiệm.

“Dù gì đi nữa, việc sinh hoạt trong một môi trường khoa học phát triển, trao đổi, va chạm với những tư tưởng khoa học hiện đại, có cơ hội được dự những hội nghị quốc tế lớn… sẽ là những kinh nghiệm rất quý báu cho những nhà khoa học trẻ. Điều này, nếu về Việt Namngay sau khi ra trường, họ sẽ khó có được” – Đào Hải Long, giảng viên ĐH Utah nhận định.

Tuy nhiên, một số quy định hiện nay lại đang trói buộc điều này. “Những lưu HS Việt Nam xuất sắc sau khi tốt nghiệp phải được ở lại các nước phát triển để làm việc. Trong khi đó, các học bổng của ta như đề án 322 đều yêu cầu lưu HS phải về nước ngay sau khi tốt nghiệp. Điều này làm mất cơ hội phát triển chín muồi về khoa học của họ” - GS Vũ Kim Tuấn (ĐH West Georgia, Mỹ) nhận xét.

GS Tuấn kiến nghị Nhà nước nên cho phép SV ở lại sau khi tốt nghiệp để tạo chỗ đứng ở các trung tâm lớn và tiếp tục giúp đỡ những SV khác sau này. 

Bên cạnh đó, yêu cầu “SV sau khi ra trường phải làm việc trong một cơ quan Nhà nước từ một năm trở lên mới được nhận học bổng của Nhà nước” cũng khiến nhiều SV giỏi “chạy” sang các công ty tư nhân hoặc công ty nước ngoài vì không đợi lâu được. 

Vì vậy, ông Đỗ Đức Thái (Phó Chủ nhiệm khoa Toán, ĐH Sư phạm Hà Nội) đề nghị bỏ yêu cầu đó với SV giỏi, đặc biệt là SV từ những lớp cử nhân tài năng. “Nếu không, chúng tôi lại phải giải quyết thêm bài toán tìm cách cho các em vào biên chế rồi mới cử đi”. 

Đáp lại đề nghị của ông Thái, Thứ trưởng GD-ĐT Trần Văn Nhung khẳng định: “Theo quy định mới, không cần vào biên chế mà chỉ cần có hợp đồng là có thể được cử đi học nước ngoài”. 

Biến “holiday” thành “scientific-day”  

Theo đề xuất của ông Nguyễn Tuấn Hoa, bên cạnh việc giúp đỡ SVViệt Nam sang học, các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài có thể cố gắng trở về Việt Nam 1, 2 năm 1 lần, mỗi lần vài tháng để trực tiếp tìm kiếm học trò, xây dựng nhóm nghiên cứu tại chính Việt Nam.  

“Nếu chỉ mời người ở nước ngoài về dạy mà không có sự hợp tác của đồng nghiệp trong nước thì khó có hiệu quả. Lý tưởng nhất là tạo nhóm nghiên cứu có cả thành phần trong và ngoài nước. Khi đó họ trở về tuy chỉ 1, 2 tháng nhưng không phải người xa lạ mà là tiếp tục công việc ở bên kia” - ông Hoa nói. Ông dẫn chứng, trước đây, GS Fedric Phạm đã xây dựng được 1 nhóm nghiên cứu mạnh ở trong nước về Hình học vi phân nhờ về nước 5, 6 tháng thường xuyên. 

Tuy nhiên, GS Lê Tự Quốc Thắng (ĐH Georgia, Mỹ) bày tỏ khó khăn trong việc tìm kiếm cộng sự phù hợp: “Muốn tìm thông tin về các nhà khoa học Việt Nam trong nước để hợp tác nhưng không biết tìm ở đâu. Muốn biết năm vừa qua Việt Nam có bao nhiêu công trình nghiên cứu, ở những ngành nào thì không tìm được, trong khi ở Mỹ có thống kê khá đầy đủ”. 

Hình thức phối hợp cùng đào tạo nghiên cứu sinh cũng được nhiều nhà khoa học đánh giá là khá hiệu quả. Tuy nhiên, GS Đỗ Đức Thái (Phó Chủ nhiệm Khoa Toán, ĐH Sư phạm Hà Nội) bày tỏ: “Một giờ hướng dẫn NCS ở Việt Nam tương đương... 2kg gạo. Trong ngân sách đào tạo phối hợp, GS nước ngoài về Việt Nam chỉ có 1 vé máy bay trị giá 900 USD và 14 ngày ở khách sạn với mức phí 40 USD/ngày và không có sinh hoạt phí. Các GS không thể làm với tinh thần thiện nguyện như thế mãi được”. 

Tranh thủ các kỳ về nước nghỉ của các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài, để mời họ giảng bài hoặc báo cáo tại hội thảo. Đó là một cách “tận dụng” họ khá tiện lợi của các cơ sở đào tạo và nghiên cứu. Tuy nhiên, những chương trình này thường không có sự chuẩn bị trước mà làm theo kiểu “chộp giật” nên hiệu quả không cao.  

GS Vũ Kim Tuấn (ĐH West Georgia) cho biết năm nào ông cũng về nghỉ hè ở Việt Nam khá lâu nhưng thời gian đó hoàn toàn là nghỉ ngơi, lên Viện Toán học cũng chỉ ngồi chơi chứ không thấy có việc gì cho mình đóng góp. 

Ông Tuấn chia sẻ: “Một số nơi cũng mời tôi tới giảng bài nhưng vì không có sự chuẩn bị trước nên tôi không coi đó là sự hợp tác chính thức. Nếu họ lên kế hoạch trước, tôi sẽ chuẩn bị chu đáo nội dung bài giảng từ bên kia”. 

Từ chia sẻ của ông Tuấn, GS Đỗ Ngọc Diệp (Viện Toán học) đề xuất nên tạo cơ chế để các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài khi về nước biến những “holiday” (kỳ nghỉ) thành “scientific-day” (kỳ hoạt động khoa học) và giúp họ tạo ra những ekip nghiên cứu trong và ngoài nước. 

Theo GS Đào Trọng Thi, hiện nay chương trình đào tạo tiên tiến ở một số trường ĐH rất thích hợp để mời các GS Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy vì có thể trích một phần kinh phí cho các thầy. Hơn nữa, những chương trình tiên tiến này đều được lấy y nguyên như chương trình của các trường ĐH Mỹ và được giảng dạy bằng tiếng Anh.

Tuy nhiên, đối tượng hưởng thụ chương trình này lại không phải là những SV giỏi nhất bởi học phí quá cao.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.