Nguyễn Văn Tố bình giá nhân vật lịch sử
Thực ra, ngay từ buổi nghiên cứu lịch sử trên tạp chí Tri tân, ông đã xác lập rõ quan niệm chủ trương rằng:
Sử học cũng như khoa học, không chủ yếu làm sách cho dày, chỉ cốt tìm được điều mới, xưa nay chưa ai nói đến, hoặc chữa những chữ người trước chép sai…”.
Ông không muốn việc nghiên cứu lịch sử vội vã đi sớm đến những khái quát ngay. Ông đặt ra câu hỏi:
“ Sử ta đã đến thời kỳ tổng hợp chưa?”
Và tự trả lời để ngỏ ý kiến cùng bạn sử học:
“ Kể đại cương về các đời vua, thì những quyển sử Nam xuất bản từ trước đến giờ, cũng có thể gọi là tạm đủ. Nhưng xét đến sự sinh hoạt của dân chúng, việc tuyển lính, cách thi học trò, sự giao thiệp với các nước láng giềng… thì hãy còn thiếu nhiều lắm. Phải tìm lâu thì may mới thấy, mà sử liệu không những ở văn thư, mà còn ở các đồ cổ tích nữa.
Tôi vẫn nói với các bạn đồng chí rằng: nếu có nhiều người chịu khó góp sức nhau lại, dịch những bộ sử chữ nhỏ thật đủ, và nhân đây khảo cứu thêm vào, mỗi người chuyên trị một khoa hay một thời, thì may ra chóng đến ngày tổng hợp”.
Về phần mình, với quan niệm chủ trương trên, ông đã đi vào công cuộc khảo cứu từng vấn đề một cách hết sức nghiêm túc.
Tinh thần độc lập sáng tạo biểu lộ qua nhiều trang viết, nhất là những khi thảo luận với các học giả nước ngoài (như Henry Mas-pero, A.Launay…) hoặc những khi bình luận, đánh giá các nhân vật lịch sử, với những ý kiến khác với người đương thời.
Một thí dụ: khi nhận xét về “người Nam làm quan Tàu”, ông đã viết: “Người Nam làm quan Tàu thì nhiều, song có bốn ông có thể tiêu biểu cho hai cái quan niệm khác nhau. Bốn ông ấy là Lý Tiến, Lý Cầm, Lý Ông Trọng và Khương Công Phụ. Lý Tiến là Thứ sử châu Giao về đời Hán. Thứ sử là quan đầu tỉnh; nước ta bấy giờ cũng như một tỉnh của Tàu, cho nên Thứ sử châu Giao cũng như ông vua nước Nam về sau. Lý Tiến là người nước Nam, lại được thống trị nước Nam vào thời Bắc thuộc, thật là một việc ít có. Lý Cầm cũng là người nước Nam, thì lại làm đến Ty lệ Hiệu úy nước Tàu, tức như Thủ tướng bây giờ. Hai ông thường xin với vua quan nước Tàu bấy giờ cho nhân tài nước ta được tuyển cử ngang với nhân tài nước Tàu. Sau, kết quả vua Tàu cho một người mậu tài (tức tú tài bây giờ) làm quan lệnh (tức tri huyện) Hạ Dương, một người hiếu liêm (tức cử nhân) làm quan lệnh Lục Hợp, và Trương Trọng làm Thái thú Kim Thanh.
Thế là cách đây 1.750 năm, nước ta đã có người biết trọng quyền lợi của mình, tuy sinh vào thời Bắc thuộc, mà đã biết đòi lấy quyền ngang hàng, tức như ta nói bình đẳng bây giờ.
Còn như Lý Ông Trọng và Khương Công Phụ cũng là người nước Nam làm đến Thủ tướng bên Tàu, tuy có sự nghiệp vẻ vang, nhưng chỉ lợi cho nước người mà thôi, không ích gì cho nước mình cả. Vì thế, mới có câu ca dao rằng:
Gáo vàng đem múc giếng tây
Khôn ngoan cho lắm, tớ thày người ta!
Tức là chê hai ông tuy tài giỏi (ví gáo vàng) mà làm quan với Tàu (ví giếng tây), thực là uổng phí cái đời thông minh xuất chúng!
Gần đây, có ông Thượng thư trí sỹ Nguyễn Văn Mại, đỗ phó bảng khoa Kỷ Sửu (1889) khi còn làm Bố chánh Thanh Hóa (1914)… lại có ý bênh vực ông Lý Ông Trọng và Khương Công Phụ, cho hai ông là biết tùy thời…
Đó là ý riêng của ông Mại, chứ phần đông quốc dân đều chê Lý Ông Trọng và Khương Công Phụ, mà khen Lý Tiến, Lý Cầm.
Ông viết: Lý Tiến, Lý Cầm là người có công với nước nhà, vì đã biết đòi quyền lợi cho người trong nước”.
Còn đối với hai nhân vật kia: “Nếu có Lý Ông Trọng thật, thì cũng đáng khen là người có chí khí anh hùng, vì đang là một tên phu làm xâu cho làng, bị người đầu phu đánh, mà tức giận bỏ nhà, bỏ nước, đi học, làm quan, đến khi chết hãy còn nổi tiếng ở nước người, nhưng ngoài ra, không thấy sách chép có công gì với nước ta cả. Còn như Khương Công Phụ và em là Khương Công Phục đều đỗ tiến sỹ đời Đường, thì chỉ là người học giỏi mà thôi, đã không có ích gì cho nước ta, lại còn “bán trực mua danh”, làm cho ai cũng phải chê.
Đã là người Nam, mà lại có học, đỗ tiến sỹ đời Đường là đời văn thịnh, thế mà chỉ bôn ba lối lợi đường danh, quên cả quê cha đất tổ, thật không đáng kính phục tý nào! Thiết tưởng những người học giỏi tài cao, phải ích nước, giúp cho dân, ít ra cũng như Lý Tiến, Lý Cầm mới phải”.
Rõ ràng có thể thấy, khi đi vào nhận xét, đánh giá các nhân vật lịch sử, ông rất thận trọng, cân nhắc, trong hoàn cảnh khách quan, chỉ lấy lợi ích của dân tộc làm thước đo duy nhất mà thôi.
Đó là một giá trị quan trọng ở nhà sử học đáng kính Nguyễn Văn Tố.








