Nguyễn Mậu Kiến với tư tưởng chủ chiến triều Nguyễn
Sinh ra trong một gia đình nho giáo, gần gũi các bậc hiền tài, ham học, học giỏi, song hai lần thi hương không đỗ… chẳng biết có phải là “học tài thi phận” hay không? Tất cả môi trường, điều kiện khách quan và chủ quan ấy tác động không nhỏ đến hành động thực tế và định hướng cho cuộc đời ông.
Uy tín đánh giặc của ông cũng được khẳng định sớm, ngay từ những năm 1850. Dưới sự chỉ huy tài giỏi của ông, toàn bộ bọn hải tặc với nhiều chiến thuyền định đánh vào phủ Kiến Xương, bị tiêu diệt.
Trong thâm tâm, Nguyễn Mậu Kiến không muốn lấy binh nghiệp làm một nghề. Ông đã khẳng khái nói rõ chí hướng của ông: “Bao giờ nước ta có giặc, tôi lại xin đi. Nay tôi có nhiều công việc cần làm hơn là công việc của ông lãnh binh”. Song thực tế lại khác, ông đã từng là một lãnh binh nổi tiếng cả ở biên giới, trên đất liền và vùng ven biển. Về hoạt động quân sự cụ thể của ông, có thể tạm chia làm ba giai đoạn chính: Giai đoạn thứ nhất: Từ năm 1868 đến năm 1871, với cương vị cao nhất là Tuần phủ, ông đã chỉ huy việc tiễu trừ bọn phỉ trên vùng biên giới phía Bắc và Đông Bắc; Lạng Sơn - Quảng Yên – Cao Bằng. Giai đoạn thứ hai, Từ năm 1872 đến năm 1873, ông chiêu mộ binh sĩ, cùng nhân dân xây dựng căn cứ Động Trung, trung tâm kháng chiến đầu tiên và mạnh nhất ở tỉnh Nam Định lúc bấy giờ. Giai đoạn thứ ba, từ năm 1876 đến khi ông chết (1879), ông cùng Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Đình Nhuận… vừa trấn giữ Hưng Hoá, vừa xây dựng kế hoạch phòng thủ chiến lược dâng lên triều đình.
Chúng ta có thể nhận thấy giai đoạn thứ hai là giai đoạn quan trọng nhất trong cuộc đời ông với tư tưởng chủ chiến đến cùng. Năm 1873, sau khi bị vua cách chức vì dâng sớ vạch tội bọn đầu hàng Pháp, ông trở về quê mộ quân cùng hai con chống giặc Pháp khi chúng xâm lược Bắc Kỳ. Tư chất quân sự của ông được bộc lộ qua hai khía cạnh sau: ngay từ những năm 1867, ông đã dự báo rằng nhất định quân Pháp sẽ đánh ra Bắc Kỳ khi chúng đã bình định xong Nam Kỳ và Trung Kỳ. Hai là, muốn đánh Pháp cần phải có thời gian chuẩn bị, phải dựa vào dân, phải “thực túc binh cường”, phải văn ôn võ luyện, phải có căn cứ vững chắc…
Ngoài các biện pháp kinh tế, văn hoá, xã hội; ông gấp rút cho xây dựng căn cứ Động Trung thành căn cứ chống Pháp sớm nhất lúc ấy ở vùng Chân Định (Kiến Xương ngày nay). Căn cứ này được xây dựng khá công phu cả về “kiến trúc” và công tác bảo đảm hậu cần chiến lược. Trung tâm kháng chiến nổi tiếng ấy do ông khởi xướng, làm “đau đầu” quân Pháp. Tư duy sắc sảo về quân sự của ông chính là sự lựa chọn địa thế để xây dựng thế trận lòng dân vững chắc làm địa bàn đứng chân của nghĩa quân. Mặt khác, ông rất chú ý đến tính liên hoàn, thế đứng của nó. Đó là việc ông xây dựng căn cứ liên xã, liên thôn (hơn 10 xã) gắn với các căn cứ nhỏ khác của Phạm Văn Nghị ở núi An Hoà, của Tiến sĩ Doãn Khuê ở thôn Đông Vinh; và nhất là quan hệ của căn cứ với thành Nam Định. Đó là một tư tưởng tích cực đánh địch ở ngoài trước để bảo vệ căn cứ. Thực tế cho thấy căn cứ này đã tồn tại trong một thời gian khá dài, mặc dù có sự chênh lệch lớn về lực lượng, và có lần thực dân Pháp tấn công vào vòng ngoài đã phải rút lui. Khi quân Pháp đánh Nam Định lần thứ 2 (1883), ba người con trai ông đã đem quân sang, phối hợp tác chiến với quân đội triều đình ở thành Nam Định. Cuối cùng căn cứ của ông chỉ lụi tàn đi sau khi thành Nam Định thất thủ và phong trào kháng Pháp lần hai tạm lắng xuống mà thôi.
Nắm vững được tương quan lực lượng ta - địch, trong chỉ đạo chiến thuật và kỹ thuật, Nguyễn Mậu Kiến tỏ ra rất thông minh và có nhiều hành động táo bạo, sáng tạo; ví như ông tổ chức nhiều tuyến chiến đấu dọc theo sông Hồng, đóng cọc tre dưới lòng sông, dựa triệt để vào luỹ tre xanh để bảo vệ căn cứ, dùng con lăn bằng tre dải đường đi, đào hào giao thông ở cả hai tuyến trong và ngoài, chặn địch từ xa với hệ thống nhiều cổng, tháp canh, tiền đồn theo hướng trọng yếu và thứ yếu của căn cứ… Còn cách đánh của nghĩa quân chủ yếu là dựa vào sự chuẩn bị chu đáo về tiềm lực vật chất, tinh thần và thế vững chắc của căn cứ. Tuy nhiên sự thất bại đã đến với người con trai của ông thay ông làm thủ lĩnh nghĩa quân. Điều đó có nhiều lý do, nhưng quan trọng nhất là sự quá chênh lệch về lực lượng, trang bị vũ khí và nghệ thuật tác chiến của ta và địch.
Trong cuộc sống kháng chiến chống Pháp, có biết bao căn cứ kháng chiến đã ra đời và đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt của nó. Ở các căn cứ Ba Đình, Hùng Lĩnh, Bãi Sậy… hầu hết, những người thiết kế và xây dựng nên những căn cứ đều là những văn thân yêu nước, có trí thức sâu rộng, lăn lộn với thực tiễn đấu tranh và có tư chất quân sự dồi dào. Còn đối với căn cứ Động Trung, xét tới cùng thì tư tưởng thân dân được thể hiện trong hành động thực tiễn giúp cho Nguyễn Mậu Kiến có cơ sở vững chắc nhất để tổ chức kháng chiến thắng lợi và lâu dài.
Vào thời ấy, thật hiếm tìm thấy được, một con người như ông, với cương vị thường dân của mình lại có thể huy động được hơn 2.000 người ở hơn mười xã trong vùng tham gia kháng chiến… Uy tín, đức độ và trình độ tổ chức võ trang kháng chiến dễ mấy ai sánh kịp? Lớn lao hơn, cùng với ông là các con, cháu trong gia tộc ông đã được truyền thụ, đào tạo kịp thời cả về tinh thần, kinh nghiệm… để kế tục ông và làm vẻ vang cho truyền thống yêu nước của gia tộc này. Về mặt lý luận quân sự, tài liệu quý hơn cả mà Nguyễn Mậu Kiến để lại cho đời sau là cach dạy về phép dùng binh. Ngoài ra, ông còn viết nhiều tài liệu khác thuộc các lĩnh vực văn học, lịch sử, triết học, khí tượng học, nông học. Người có tài năng bao giờ cũng được mọi người trân trọng và kính phục khi họ biết cống hiến tài năng ấy cho dân, cho nước. Nguyễn Trọng Hợp - Tổng đốc Nam Định đã đánh giá rất xác đáng về Nguyễn Mậu Kiến như sau:
“Nguyễn Mậu Kiến là người giỏi binh pháp. Điều ấy đã được thể hiện rõ trong những năm viên ấy đánh giặc ở quân thứ Cao - Lạng. Gần đây, trước việc hưởng ứng chiến Cần Vương của thánh thượng, viên ấy đã tỏ rõ tài năng. Viên ấy có tội không vâng mệnh bãi binh và đàn hặc bọn nhút nhát nên phải cho đi quân thứ để nghiêm phép nước. Nhưng xét viên ấy là người có lòng chính, có đức nhân, hết lòng với xã tắc, sĩ tốt không ai ta oán, đó thật là điều khả thủ. Viên ấy lại am hiểu thiên văn, thật là đáng quý. Tâu thánh thượng, rộng xét, tuyển dụng để khỏi phí kẻ hiền năng”.
Ở vào những thời điểm, những hoàn cảnh lịch sử cụ thể lúc đó, khi chiến tranh đang đe doạ dân lành thì lòng yêu nước thương dân, tư tưởng chủ chiến đến cùng với các hoạt động quân sự của ông được bộc lộ rõ hơn cả. Ông và những đồng sự của ông có không ít những dự kiến táo bạo như xây dựng kế hoạch phòng thủ chiến lược trên cơ sở dựa vào thế hiểm yếu của miền thượng du, lấy căn cứ Hưng Hoá làm đại bản doanh, chuyển trung tâm kháng chiến về mạn ngược. Song tất cả những điều ấy còn đang được thực hiện dở dang.








