Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 23/08/2007 23:13 (GMT+7)

Người Thái Bình với nghệ thuật chèo

1. Đặc trưng đất và người Thái Bình

Đặc trưng dễ thấy nhất ở Thái Bình là làng nhiều họ. Qua khảo sát ở các làng thuộc huyện Tiền Hải chúng tôi được biết số làng có dưới 10 họ chỉ chiếm khoảng 25%; số làng có từ 10 đến 15 họ chiếm khoảng 40%; số làng có từ 16 họ trở lên chiếm khoảng 35%. Đặc trưng làng nhiều họ, từ nhiều nguồn tới đã chi phối tính đa dạng trong sự thống nhất về văn hóa dân gian của Thái Bình.

Một đặc trưng đáng chú ý là người Việt (Kinh) chiếm tỷ lệ tuyệt đối. Vốn là sự hội tụ cư dân tứ xứ, nhưng chỉ thuần nhất có người Việt trên một vùng đất nông nghiệp thuần túy, nên các sắc thái văn hóa dân gian vừa phong phú vừa có điều kiện để bảo lưu.

Một trong những đặc trưng được xem là nổi bật nhất về Thái Bình là đất chật người đông. Theo số liệu điều tra dân số năm 1989 thì mật độ dân số Thái Bình chỉ đứng sau Hà Nội và TP.HCM: mật độ dân số bình quân cả nước là 192người/km2 thì Thái Bình là 1092người/km2. Vào thời điểm năm 1931 khi mật độ dân số bình quân ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng là 430người/km2 thì Thái Bình là 593người/km2.

Về đời sống tâm linh và tín ngưỡng tôn giáo của cư dân Thái Bình, có lẽ ngoài những đặc trưng chung, cần chú ý đến những nét riêng, đó là, Thái Bình cơ bản chỉ có hai tôn giáo chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo. Đạo Tin Lành tập trung chủ yếu ở thôn Khả Cảnh xã Hồng Tiến huyện Kiến Xương, tuy xuất hiện tương đối sớm nhưng phát triển chậm, đến thời điểm đầu năm 1997 cũng chỉ có một nhà thờ và khoảng hơn 200 tín đồ.

Về tín ngưỡng dân gian, ở Thái Bình phổ biến nhất là tín ngưỡng thờ thành hoàng làng gắn với hội làng. Thế giới thành hoàng làng ở Thái Bình vô cùng phong phú. Nổi bật là tục thờ tổ nghề trong các làng như tục thờ bà Chúa Muối (Quang Lang, Thái Thụy), thờ tổ nghề dệt chiếu (Hải Triều - Hưng Hà) thờ tổ nghề Trạm bạc (Đồng Sâm - Kiến Xương...). Ở Thái Bình vốn đã duy trì các hình thức tín ngưỡng, các sự lệ phong phú từ trò diễn ông Đùng bà Đà mang tính phồn thực sơ khai, đến Múa bệt, Đuổi hổ, Rước nước, Cầu ngư... Có thể xem đó là sự hội tụ các hình thức tín ngưỡng mang sắc thái văn minh nông nghiệp trên đất Thái Bình.

Lễ hội truyền thống ở Thái Bình (trong đó nổi bật là chèo sân đình) là bảo tàng sống phản ánh khá toàn diện tính cách và sắc thái văn hóa của cư dân Thái Bình truyền thống và hiện tại.

2. Chèo đến sớm, ở lâu với Thái Bình

Coi trọng đàn ca hát xướng: Lễ hội truyền thống là nơi lưu giữ, chuyển tải các giá trị văn hóa nghệ thuật. Hơn 200 lễ hội làng ở Thái Bình, trong đó có những hội còn lưu giữ những lễ thức sơ khai nguyên thủy, đã tạo những yếu tố nghệ thuật cho nghệ thuật chèo phôi thai. Với hội làng, chiếu chèo sân đình là hình thức không thể thiếu vắng.

Thái Bình là một trong những chiếc nôi của nghệ thuật chèo. Đây là ghi nhận không chỉ của các nhà nghiên cứu, những người làm chèo mà còn cả khán giả yêu thích chèo cả nước.

Trên vùng đất thuộc Thái Bình xưa, nay đã có ba trong bảy Vị tổ nghề của nghệ thuật biểu diễn, đã từng sinh sống và làm nghề, đó là Đào Văn Só, Đặng Hồng Lân và bà Đào Nương. Hai ông Đào Văn Só, Đặng Hồng Lân được những người làm nghệ thuật tôn thờ, ngày mất của hai ông (12-8) thành ngày giỗ tổ nghề. Bà Đào Nương được thờ làm Thành hoàng làng Hoàng Quan (nay là Hoàng Xa, xã Đông Phương, huyện Đông Hưng), được thờ ở đền Bách Thần, dân gian gọi là Bách linh từ ở huyện lỵ Đông Quan xưa. Bà Đào Nương được các Triều Lê - Nguyễn phong là Thượng đẳng thần rồi Thượng thượng đẳng thần; sắc phong thời vua Lê Cảnh Hưng (1740-1785) ghi rõ bà là một người con gái đẹp, đàn giỏi hát hay: Cầm Bà Thi Nữ.

Ở Thái Bình còn hai nơi thờ nghệ nhân hát ca trù, dân gian quen gọi là hát ả đào, một ở làng Me (làng Trực Mai, xã Tân Hòa), một ở làng Tráp (làng Gia Lạp, xã Văn Cẩm) đều thuộc huyện Hưng Hà. Một bà được phong Chuôm Me đại vương một bà được phong Sơn Dương nữ chúa tôn thần. Dân gian quen gọi bà là Bà Ả (ả đào).

Những chứng tích trên chứng minh truyền thống “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của người Thái Bình, họ không coi những người đàn hát là “xướng ca vô loài” mà là thần, là tiên, khi những người này đã tử vì nghệ. Bà Đào Nương hát xong đi xuống giếng... rồi biến mất, khi người dân đến, chỉ còn dòng chữ của Bà để lại:

Vũ mao biến hóa nguyệt trung thiên
Phảng phất nghê đình phi ngọc điện.
(người con gái đẹp, người ca nhi đã về chốn cung trăng, lời ca tiếng nhạc chỉ còn thấy ở nơi thờ cúng).

Hai ông Đào Văn Só, Đăng Hồng Lân bị chết đuối trong một lần đi biểu diễn. Chuôm Me đại vương đi hát ở hội đền Tiên La về bị ngã xuống giếng chết, con bà Đỗ Thị Ngạn Thần tiên giáng thế lại chết đứng khi đang hát tại đền Cả của làng Tráp (2).

Thái Bình có không ít câu chuyện dân gian kể về những thần tiên của nghệ thuật và nhiều loại hình văn nghệ dân gian tiêu biểu như: múa rối nước, hát ả đào, hát chèo, hát văn, dân ca... Phải chăng vì sự tôn sùng nghệ thuật của người dân nơi đây đã đi vào tâm thức, tín ngưỡng mà hát chèo ở Thái Bình cho đến nay đã trở thành truyền thống. Khảo sát năm 2001, chúng tôi thấy không một làng xã nào ở Thái Bình lại không có người biết hát, diễn chèo, làng ít cũng có vài ba người, làng nhiều có tới hàng trăm người. Thưởng thức loại hình nghệ thuật này đã trở thành thói quen như cơm ăn, nước uống hàng ngày. Chẳng thế mà họ

Chẳng thèm ăn chả ăn nem
Thèm mo cơm nếp, thèm xem hát chèo.

Người Thái Bình không chỉ hát, diễn chèo tại quê, mà đã đem chèo ra ngoài tỉnh từ rất sớm (sau này đem chèo ra cả nước ngoài). Từ những năm đầu thế kỷ XX, các nghệ nhân chèo của Thái Bình đều nói rằng: đất này đã có 3 làng chèo nổi tiếng, đó là các làng Hà Xá (Hưng Hà), Sáo Đền (Vũ Thư), Khuốc (Đông Hưng). Chèo Hà là cả vùng phía tây bắc huyện Hưng Hà, chèo Khuốc là các làng chèo của huyện Tiên Hưng xưa và Sáo Đền là các làng chèo của Thư Trì - Vũ Tiên... Ngoài ra, cũng phải kể đến một số làng mà ở đó cũng có những gánh chèo từng đi lưu diễn ngoài phạm vi làng mình như: làng Hoàng Quan (Đông Phương) làng Hoàng Từ (Đông Cường) làng Nguyễn (Nguyên Xá), làng Lễ Cũ (Thụy Duyên).

Gánh, phường, hội chèo ở Thái Bình: Các phường, gánh, hội chèo (tuồng) Thái Bình thời kỳ từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 trở về trước, phần lớn hình thành và phát triển từ yêu cầu thưởng thức nghệ thuật của cộng đồng dân xã trong hội làng. Chèo lại thường tập trung hội tụ vào dịp có lễ hội lớn, có lịch sử lâu đời, phụ thuộc vào quyền linh vị thần thánh thờ tại đền, đình làng nơi đó, ảnh hưởng lớn nhỏ đến dân trong vùng, trong tỉnh. Chẳng thế mà “xung quanh làng Khuốc không thể thiếu chèo, gánh Khuốc lớn, Khuốc con đi diễn cả tháng, trước hội và sau hội. ở làng Khuốc chèo ảnh hưởng tâm thức dân làng, quan tước đến mức: ai làm quan có chức sắc đến mấy, nếu trong nhà không có gánh hát thì vẫn chưa sang”(1). Làng Sáo Đền, vào dịp có hội, thường mời các gánh hát khắp nơi về hát thi trổ tài, ban giám khảo là những người có uy trong làng và các nghệ nhân giỏi của các gánh hát bầu ra, sau đó gánh nào diễn hay, đặc biệt có nhiều nghệ nhân chèo được mệnh danh là “tứ chiếng”, sẽ được làng trao tặng tiền và lụa.

Về vấn đề chèo đến sớm, ở lâu với Thái Bình, cần bàn về phường, gánh, hội, ban...

Phường: Sử chép từ đời Lý (thế kỷ XI) qua các triều đại sau, đến đời Nguyễn, dùng để chỉ đơn vị dưới xã, làng, tương đương với ấp, thôn. Phường cũng chỉ nhóm người cùng nghề, tập hợp lại giúp đỡ nhau làm ăn có hiệu quả. Với các đơn vị làm nghệ thuật, phường còn chỉ một phương thức làm ăn, là tiền hát đám (thuê đêm, khoán vở) thu về, trừ mọi chi phí, để lại chút đỉnh làm quỹ dự phòng, còn lại đem chia cho mọi người, theo mức nghề, phần chia đó do tập thể bàn bạc thông qua. Phường chỉ đi hát thời gian nông nhàn và vẫn sống chủ yếu bằng nông nghiệp hay nghề thủ công khác.

Gánh: Cũng ở dạng tổ chức phường - hội ăn chia kinh phí theo mức đều, cũng có chia theo mức nghề, nhưng chênh nhau không đáng kể, song họ đã lấy tiền hát làm nguồn thu quan trọng, mặc dù vẫn trên cơ sở “canh nông vi bản”. Và còn có nghĩa đen chỉ việc gánh đôi bồ, đôi hòm đựng quần áo, đồ nghề trên đường lưu diễn.

Thời trước, chính quyền Pháp quy định bắt các phường, gánh phải đăng ký tên tuổi từng người mới cho lập hội. Do đó, hội chèo cũng có khi là phường này, gánh nọ; khác chăng, có phường do vị “tai mắt” giàu sang thế lực, nuôi ăn để tập và hát trong nhà như cụ Thương (Cao Kim Trác) ở Khuốc, có khi vị giàu sang chỉ nuôi ăn tập và hát cho những lần ông ta yêu cầu; còn khi những anh chị em đi hát đám ngoài, thì gánh phải chịu hạch toán thu - chi kiểu phường, hội. Nói đến phường - hội - gánh để thấy rằng tổ chức của những người đi hát đã có bước tiến dần và bắt đầu đi vào nề nếp. Thực tế, cả mấy loại gánh trên vẫn hoạt động làm ăn theo kiểu “gia đình”, “tài tử”. Gánh tuy có nhiều tiền hát lưu diễn, song vẫn sống bằng nghề nông nghiệp là chủ yếu.

Ban: Chỉ nhóm người nghề do tài tử thuê mướn trả lương, hát quanh năm trên sân khấu cố định ở nơi thành thị thời kỳ Pháp thuộc, nhưng cũng có khi rạp vắng khách lại đi diễn lưu động. Nhưng đi diễn đã theo kỳ hạn từng tuần, từng tháng, lấy đó làm nguồn sống chính. Họ đã thoát ly khỏi đồng ruộng, (không chút nào dính dáng đến mùa vụ nông nghiệp) như Ban hát chèo của Sán Nhiên Đài ở Hà Nội.

Ở Thái Bình, thời kỳ này đã sớm có rạp Bát Tiếp. Rạp này được tu tạo dần và qua tay nhiều chủ, dần trở thành rạp Tập Thiện, song chủ yếu cho thuê làm nơi hội họp, hoặc cho ban, gánh hát bên ngoài thuê diễn tạm ít ngày, như gánh ông Cả Tổng (trú ngụ tại Thị xã), gọi là gánh, nhưng cung cách làm ăn lộ rõ quan hệ chủ với người hát thuê. Rạp này còn được Ban hát của ông Xã Khúc bên Nam Định sang thuê dài hạn. Nhưng ban hát này do tính chất gia đình chi phối, vẫn mang đậm chất phường hội. Ngoài ra, còn gánh ông Tổng Tố, Tổng Tấn, Cụ Thương cũng đi hát khắp nơi và hát ở rạp Tập Thiện, nhưng cung cách làm ăn và đối xử kiểu nhà nghề, chứ không mang tính kinh doanh như các gánh kể trên.

Như vậy, những tên phường, gánh hay hội, ban kể trên chỉ mang nghĩa tương đối, vì trừ số rất ít nghệ nhân tài năng đi xa hát thuê cho chủ thời gian dài như cố lão nghệ sĩ Năm Ngũ, thời gian ngắn như các ông ba Đối, ông Điền, ông Trạch, bà Na trong gánh chèo Khuốc, thì hầu hết tổ chức phường, gánh, hội chèo ở Thái Bình (trước Cách mạng tháng Tám) vẫn hát trên chiếu trải ngoài trời: sân đình, bãi chợ; với ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng đèn dầu, cây đuốc, cây nến vào thời gian lễ hội nông nhàn.

Theo Trần Việt Ngữ, nếu kể số phường, gánh, hội chèo mang rõ tên ông trùm, từng hoạt động và sinh sống trên địa bàn Thái Bình thì “cả tỉnh có 46 đơn vị, phân theo huyện ngày nay là: Vũ Thư 13; Đông Hưng 9; Hưng Hà 8; Thị xã 4; Kiến Xương 6; Thái Thụy 4; Quỳnh Phụ 2. Song nếu chỉ tính số, phường, gánh, hội chèo còn đang hoạt động biểu diễn khoảng những năm 1932 đến 1944, thì con số là 25, trong đó: Vũ Thư 6; Đông Hưng 5; Hưng Hà 4; Kiến Xương 4; Thị xã 2; Thái Thụy 2; Quỳnh Phụ 2.

Nhiều nghệ nhân cho rằng: Đơn vị được xem là lớn, mạnh thì những phường, gánh đó có khoảng từ 13 đến 18 người, thường phải đảm nhiệm hát cả tuồng và chèo. Sở dĩ phải hát cả tuồng và chèo là vì: nhu cầu khán giả lúc bấy giờ thích xem tuồng nhiều hơn là xem chèo, cho nên, các phường hát được dân gian gọi là phường hát tuồng - chèo, hay gánh hát tuồng - chèo. Những gánh, phường này, thường trấn giữ hội làng nhà, tùy điều kiện mà lan toả, ảnh hưởng đậm nhạt các hội làng lân cận. Lễ hội càng lớn (về ý nghĩa lịch sử, quy mô tổ chức) thì càng thúc đẩy, tạo thêm điều kiện cho gánh, phường phát triển lâu dài.

Các gánh, phường tuồng chèo ở Thái Bình có nhiều nghệ nhân tài năng mà hôm nay chúng ta được chứng kiến, đó là: Vũ Thư, Đông Hưng, Hưng Hà, (Sáo Đền, Khuốc, Hà Xá). Song qua thực tế thì thấy Thị xã có ồ Mề, Bo, Vũ Chính; Kiến Xương có Thanh Lê, Thanh Tân, Đồng Xâm; Thái Thụy có Thụy Hồng, Thụy Hà, Thụy Phong, Thái Phúc; Quỳnh Phụ có An Lễ, Vũ Hạ, Quỳnh Hải. Nhưng hoạt động toàn diện và đóng góp làm nổi danh cho chèo Thái Bình là 3 làng Sáo Đền, Hà Xá và Khuốc.

Rõ ràng phần lớn các gánh, phường tuồng chèo ở Thái Bình trước Cách mạng tháng Tám đã hình thành, chuyển hóa, phát triển từ nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của quần chúng trong các lễ hội làng, xã. Đồng thời, các gánh hát đều gắn bó với lễ hội lớn có lịch sử lâu dài trong vùng. Xưa kia người ta chỉ hát, diễn tuồng chèo vào những ngày tháng nông nhàn, hoặc những ngày hội của làng, rất ít có những hội, gánh hát chèo ra khỏi làng, khỏi xã và họ chỉ hát sau mùa vụ đã xong do vẫn phải lấy nghề làm ruộng làm nguồn sống. Chính vì lễ hội ở Thái Bình khá đậm đặc cho nên, nghệ thuật chèo phôi thai, hội tụ, và có được môi trường tốt để phát triển. Chẳng thế mà chính từ lễ hội ở các làng quê đã nuôi dưỡng cho Thái Bình xưa và nay đâu đâu cũng có người biết đàn, biết hát và thưởng thức chèo. Và cũng nhờ thế mà Thái Bình đã từ lâu có nguồn nhân lực dồi dào về nghệ thuật chèo, đủ sức cung cấp cho làng chèo cả nước.

Những năm đầu thế kỷ XX, Thái Bình đã xuất hiện chí sĩ, nghệ sĩ, tác giả Nguyễn Thúc Khiêm, sinh tại làng Hoàng Rồng, xã Điệp Nông, Hưng Hà. Sự nghiệp sáng tác của ông rất đồ sộ, để lại 14 kịch bản tuồng, 8 ca khúc chèo, 6 truyện, 2 khảo cứu chèo, tuồng... Lê Thanh Hiền trong tác phẩm Chí sĩ - nghệ sĩ Nguyễn Thúc Khiêm đã viết: Nguyễn Thúc Khiêm như một dấu chấm son trong văn sách cổ”, “đọc những kịch bản chèo và ca khúc chèo mà Nguyễn Thúc Khiêm sáng tác... ta lại thấy vọng về lời mẹ hát ru ta từ thuở ấu thơ, lại thấy chập chờn những cánh cò trắng mỏng manh vỗ nhịp bay vào bầu trời êm ả...”. Ông chính là người luôn đóng vai trò nhắc vở giúp cho cố NSND Nguyễn Đình Nghị suốt một thời gian dài. Có thể nói vai trò của người nhắc vở là vô cùng quan trọng. Chèo xưa chỉ có thân trò, tùy nơi, tùy lúc, tùy hoàn cảnh... mà các nghệ nhân khi biểu diễn phải ứng tác cho thân trò không gầy guộc. Người nhắc vở phải là nhà nghệ thuật, đồng thời là nhà sáng tác ứng biến tại chỗ, khi có tình huống thực tiễn xảy ra. Ví dụ khi trò diễn đã hết, nhưng khán giả muốn xem tiếp, thì trò diễn tất yếu phải kéo dài thêm. Hoặc tuy trò còn, nhưng hoàn cảnh, tình thế cần phải kéo rộng dài trò hơn thì cũng tương tự như trên, người nhắc vở và diễn viên phải đồng sáng tạo sao cho hợp cảnh. Hay cũng có đôi khi diễn viên quên lời, thì người nhắc vở sẽ giúp họ nhớ lại, bằng cách, phải đứng ở cánh gà theo dõi từ tổng thể đến chi tiết nội dung nghệ thuật biểu diễn mà nhắc lời hoặc ứng tác (bịa) giúp họ “lấp khoảng trống” một cách hợp lý.

Từ sau ngày miền Bắc giải phóng (1955) Đảng và Nhà nước ta có điều kiện để chăm lo đến việc xây dựng phát triển văn hóa, trong đó có nghệ thuật chèo. Trường Sân khấu nghệ thuật Việt Nam , Nhà hát Chèo Trung ương được thành lập. Các nghệ nhân chèo Thái Bình được mời lên giảng dạy, truyền nghề, được tuyển vào làm nhạc công, diễn viên..., trở thành những viên gạch đầu tiên xây dựng Nhà hát. Hiện nay Nhà hát chèo Trung ương vẫn còn lưu giữ chân dung và ghi công 25 nghệ nhân chèo Thái Bình. Sau này có những nghệ nhân đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý như: NSND Năm Ngũ, NSND Nguyễn Mầm. Năm 1976 các nghệ nhân chèo Thái Bình lại được mời lên Trung ương để khai thác góp phần vào kho tư liệu chèo của cả nước thêm phong phú, góp phần không nhỏ vào công tác nghiên cứu bảo tồn và phát triển nghệ thuật chèo của dân tộc. Từ đây, có người đã trở thành nhà nghiên cứu, thành giáo sư, thành tác giả, đạo diễn, diễn viên sân khấu chèo... tiếp tục góp phần bảo tồn và phát huy loại hình nghệ thuật quý giá, di sản văn hóa nghệ thuật của dân tộc.

_______________

1. Tác giả Hà Quang Tiết ghi chép lời các nghệ nhân Hà Quang Bổng, Hà Quang Xuyên, Cao Kim Trạch, Đào Thị Na, Phạm Văn Điền kể lại.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.