Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 09/01/2009 18:34 (GMT+7)

Ngôn ngữ bản "Tuyên ngôn Độc lập" - Một hình ảnh về sự độc lập của tiếng Việt

1- Cách mạng Tháng Tám thành công đã khai sinh ra một nước Việt Nam độc lập. Nước Việt Nam độc lập thì tiếng Việt cũng được độc lập. Độc lập là tiếng nói và chữ viết trở thành chính danh. Mệnh đề ấy rất đơn giản nhưng lại hoàn toàn không đơn giản chút nào trong sự nghiệp đấu tranh cho văn hoá của dân tộc Việt Nam .

Tiếng Việt “ là thứ của cải vô cùng lâu đời, vô cùng quý báu của dân tộc”(Hồ Chí Minh, 1962), là công cụ hữu hiệu trong phát triển và giữ gìn văn hoá Việt Nam suốt chiều dài lịch sử. Nhưng tiếng Việt, cho đến ngày Cách mạng Tháng Tám, mới thật sự là thứ ngôn ngữ chính danh. Bản “Tuyên ngôn Độc lập” mà Hồ Chủ Tịch đọc ngày 2 tháng Chín năm 1945  là một minh chứng cho điều tiếng ta đã thật sự trở thành một tiếng độc lập.

2- Sau cả ngàn năm Bắc thuộc, chữ Hán đã có một cương vị đáng kể trong đời sống nước ta do các tiếp xúc ngôn ngữ và cả chính sách hướng tới việc đồng hoá văn hoá. Mặc dù người Việt đã có những cố gắng tự chủ cao độ, mà biểu hiện rõ nhất trong việc hình thành cách đọc Hán-Việt, thế nhưng, ngay cả sau thế kỷ thứ mười, khi nước ta đã giành độc lập, chữ Hán vẫn được coi là chính danh trong giáo dục-đào tạo (hệ thống khoa cử), trong hệ thống văn bản quản lý nhà nước (từ Chiếu chỉ và các Châu bản của nhà vua) và trong sáng tác văn chương (dòng văn học chữ Hán). Các văn kiện nổi tiếng về nền độc lập dân tộc như bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” (tương truyền của Lý thường Kiệt, hay “Bình Ngô Đại cáo” (của Nguyễn Trãi),… đều được viết bằng chữ Hán. Phải đến “Tuyên Ngôn Độc Lập” (1945) cuả Hồ Chí Minh ta mới có một văn kiện chính thức đầu tiên về nền Độc lập dân tộc được viết bằng tiếng Việt, chữ Việt một cách chính danh. Ngôn ngữ “Tuyên Ngôn Độc Lập” là một sản phẩm đẹp đẽ của tiếng Việt chuẩn mực và hiện đại. Một hòn ngọc văn hoá qua tay một thợ kim hoàn điêu luyện.

3- Ngôn ngữ “ Tuyên ngôn Độc lập” là ngôn ngữ chính luậncủa một áng hùng văn đầy cảm xúc và của một ý chí sắt đá. Thành công của ngôn ngữ trong văn bản này có thể nhận thấy trên nhiều phương diện.

Trước hết nói về ngôn từ và văn bản.

Tuyên ngôn Độc lập” có ba nội dung cợ bản. Ba nội dung ấy được tác giả gói gọn trong ngôn từ của lời kết: “ Nước Việt Nam có quyền hưởng Tự do, Độc lập, và sự thật, đã trở thành một nước Tự do, Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền Tự do, Độc lập ấy”.

Đây là một Tuyên bố Nhà nước, một văn bản Quốc gia chính thức cho nên, theo thông lệ của các chuẩn mực, người viết đã chọn dùng ngôn ngữ luật pháp chứ  không phải ngôn ngữ hành chínhđể thể hiện .Theo đó, tác giả đã không xuất phát từ  cái ý chủ quan của riêng mình mà bắt đầu văn bản bằng việc nêu lên một chân lý khách quan, vốn  đã thấy trên chính trường quốc tế: “ Mọi người sinh ra đều bình đẳng”,… “Tạo hoá đã cho họ những quyền không thể xâm phạmđược trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” để chứng minh cái quyền dân tộc tất yếu của Việt Nam . Lối biểu đạt này cũng làm ta nhớ ngay đến cách nói tương tự trong những tuyên ngôn về Xã Tắc ngày trước của ông cha ta: 

                                 “ NamQuốc sơn hà Nam Đế cư,

                                   Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư

Hay trong “Bình Ngô đại Cáo”:

                                “ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

                                  Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

                                                    Nguyễn Trãi

Đã là tuyên ngôn thì phải nói ngay được cái chân lý, cái cốt lõi. Các phân tích ngôn từ triển khai tiếp theo sẽ bám vào đó mà thể hiện các lập luận.

Ngôn ngữ văn bản này được viết rất giản dị nhưng tổ chức  cực chặt chẽ. Các liên kết lô gích và liên kết mạch lạc làm nòng cốt  cho việc triển khai các lập luậncơ bản. Đó liên tục là một chuỗi của các lập luận: Lập luận về quyền dân tộc, lập luận về việc thực dân Pháp vi phạm các quyền đó, lập luận về thời cơ của vận nước, lập luận về quyền và trách nhiệm của dân tộc Việt Nam, lập luận về quyết tâm của chính phủ và nhân dân Việt Nam trong việc giữ gìn quyền độc lập và tự do.Một đặc trưng khác là cùng với lập luận chặt chẽ, lời văn của Tuyên ngôn hết sức trang trọng và lịch sự.

4- Trong đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ đã viết rất nhiều văn bản bằng tiếng Việt. Theo chúng tôi, trong số đó, có năm văn bản điển hình được Bác viết ở những thời điểm khác nhau, với những mục đích khác nhau và với cá tính sáng tạo khác nhau và những với cảm xúc khác nhau. Phải làm một phép so sánh thì sẽ thấy rõ đặc diểm của “Tuyên ngôn độc lập”:

a/ Ngôn ngữ của tác phẩm “ Đường Kách mệnh” (1927) là ngôn ngữ Việt đời mới, khác với cái ngôn ngữ từ chương trước đó và đương thời, sách nhằm sớm phổ biến, tuyên truyền và huấn luyện cách mạng theo lối mới cho nên ngôn từ rất được chú ý trong cách diễn đạt để sao cho người dân dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc, dễ truyền đạt. Trong sách, tác giả đã giới thiệu rất tài những nội dung triết học rất quan trọng của chủ nghĩa Duy vật Lịch sử  kết hợp với thực tiễn của phong trào công nhân và giải phóng dân tộc thuộc địa ở ta. Tác phẩm này đã” lập trình” cho lý luận cách mạng Việt nam. Bằng một thứ tiếng mẹ đẻ hiện đại, Bác đã khéo giới thiệu những nội dung kinh điển có trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” ( Mác & Ăng-ghen, 1848) và “Nhà nước và Cách mạng” ( Lê-Nin, 1917) với thực tiễn nóng bỏng và đường hướng của Cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam.

b/ Ngôn ngữ của “ Tuyên ngôn Độc Lập” là ngôn ngữ của một văn kiện chính trị lớn, hướng đến một công chúng lớn mà đối tượng đích là “ Quốc dân và Thế gíơi”. Nội dung truyền thông trong bản bố cáo rất lớn lao, có ý nghĩa vận mệnh của Quốc gia và Dân tộc. Dễ dàng nhận ra là tác giả đã viết văn bản trong một sự hào sảng cao độ, các cảm xúc như trào lên ngọn bút quanh hai từ  Độc lậpTự do. Ngôn ngữ luật pháp được vận dụng triệt để, các phát ngôn đầy tính nhân văn và lịch lãm, nhưng không màu mè và giả tạo, không lên gân mà rất tự nhiên, trung thực. Quan điểm của người nói khi phát ngôn rất chân thành và tha thiết nhưng cũng rất kiên định và cương quyết.

Sự súc tích của câu văn và từ ngữ cũng là một nét nổi trội. Có những nội dung rất lớn nhưng tác giả chỉ cần gói gọn trong một dòng với những ngắt đoạn cực ngắn, ví dụ như khi nói về tình thế của cách mạng ta lúc đó, Tuyên ngôn đã viết : “ Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị. … Chúng ta lấy lại đất nước ta từ trong tay Nhật chứ không phải trong tay Pháp”. Thế là rõ: Đối ngoại thì Pháp không có lý do gì để trở lại Việt Nam , đối nội thì chính quyền cũ đã hạ cờ. Lịch sử đã sang trang. Mấy ngày sau, khi quân đồng Minh nhập Việt thì họ chỉ là khách đến làm nhiệm vụ trong một đất nước có chủ.

c/ Ngôn ngữ của “ Lời kêu gọi Toàn Quốc kháng chiến”(20/12/1946), lại rất khác. Đây là một văn kiện với ngôn  từ cực kỳ ngắn gọn, xuất hiện trong một tình thế hiểm nghèo vào cái lúc “ Sơn hà nguy biến”. Cốt lõi văn bản thể hiện ở tiêu điểm: lời thề quyết chiến: “ Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất đinh không chịu làm nô lệ”.Bác Hồ đã không dùng văn phong chính luận nưa mà dùng lối khẩu ngữ để nói với đồng bào. Người lập luận rành rọt và lập luận ấy đã lay động đến đáy lòng mọi người: “ Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta đã nhân nhượng, nhưng càng nhân nhượng giặc Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”…” Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân biệt đảng phái, dân tộc, tôn giáo. Hễ là người Việt nam yêu nước thì phải đứng lên đánh Pháp cứu Tổ Quốc. Ai có súng dùng súng,ai có gươm dùng gươm,không có súng gươm thì dùng cuốc thuổng gậy gộc,…”. Đây là tiếng hịch truyền của non sông, là tiếng kèn xung trận.

d/  Hai mươi năm sau ( 17/7/1966), nước ta lại đang vào cơn thử thách ( “ Xã Tắc lưỡng hồi lao thạch mã” (Trần Nhân Tông, 1288), phong cách ngôn ngữ hiệu triệu lại được Bác Hồ lặp lại trong Lời kêu gọi “ Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”. Trong một tình huống hiểm nghèo còn lớn hơn xưa mà đất nước đang phải đối mặt, thì “ tiếng Người tha thiết kêu gọi bốn phương”,  Bác Hồ đã nói với đồng bào:” Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân ta quyết không sợ. Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do. Đến ngày kháng chiếnthắng lợi chúng ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Phong cách khẩu ngữ của lời tâm sự ấy đã rất thành công khi đưa Người xích lại với đồng bào và Quốc dân trong giờ phút thử thách của lịch sử.

e/ Ngôn ngữ bản Di chúc của Người lại có lối diễn đạt rất khác. Đây là một văn bản chứa đựng những lời tâm sự cá nhân, những nguyện vọng và mong muốn của một trưởng lão Quốc gia đối với những vấn đề lớn của đất nước trước khi rời khỏi cõi bình sinh. Như nhận thức được cái tất yếu của quy luật cuộc sống, Bác Hồ đã dùng ngôn ngữ của một lối viết rất bình thản, tự tin, hơn thế có chỗ còn dí dỏm để an ủi mọi người. Tuy là tâm sự cá nhân nhưng trong Di chúc Bác nói tới toàn là chuyện “Quốc gia đại sự “  ở thời điểm đó và cả những tính toán quốc kế lâu dài. Ngôn từ của di chúc rất hiền từ, dung dị  và khiêm tốn, không áp đặt, không mệnh lệnh rao giảng mà khuyên bảo chí tình từ một ý chí mạnh mẽ, không vị thân. Ngôn ngữ của Bác ở đây cũng toát lên một tinh thần dân chủ, đồng thoại qua lối tâm sự từ tốn và khơi gợi. Văn bản đọng lại là lòng tin, những ước vọng và cả những trăn trở ưu tư của Bác.

Trở lại với ngôn từ của bản “ Tuyên ngôn Độc lập”, chúng ta thấy lời văn ở đây là kết tinh một thứ tiếng Việt rất mới mẻ và hiện đại. Cho đến nửa đầu thế kỷ 20, văn xuôi nước ta vẫn còn viết nhiều theo lối biền ngẫu, tỉa tót, đăng đối do đó cách diễn đạt còn cầu kỳ, nặng nề và kém hiệu quả. Ngôn ngữ báo chí Cách mạng trong hai thập kỷ (1925-1945) đã góp phần tích cực trong việc cải cách và hiện đại hoá lối viết tiếng Việt trên chữ Quốc ngữ mà cái chính là để tuyên truyền vận động cách mạng. Hồ Chí Minh đã gương mẫu và đi tiên phong trong sự phát  triển này. Từ báo Thanh Niên (1925) đến sách “Đường Kách mệnh” ( 1927), từ báo “Việt Nam Độc Lập” (1941) đến “ Tuyên ngôn Độc lập” (1945) đã xuất hiện ngôn ngữ chính luận Hồ Chí Minh bằng tiếng Việt như một thứ ngôn ngữ của tương lai. Không phải ngẫu nhiên mà sau hơn sáu mươi năm công bố, ngày nay, ngôn ngữ của “ Tuyên ngôn Độc lập” vẫn bảo lưu đầy đủ giá trị hiện đại của nó mà chưa một văn bản chính thức nào của Nhà nước ta vượt qua được. Ngay cả sự lựa chọn từ ngữ của tác giả cũng nói lên khả năng tự chủ tuyệt vời của người viết. Trong khi trích dẫn lời Tuyên ngôn bất hủ của nước Mỹ năm 1776, Hồ Chủ Tịch đã dịch từ “ GOD” thành hai chữ “Tạo hoá” cực hay và thâm thuý. Thay vì dịch “Chúa Trời” hay “Thượng Đế”, hai chữ “Tạo Hoá” vừa gần gũi tâm lý người Việt, vừa thể hiện chỗ đứng của người viết, vốn theo triết học của Chủ nghĩa Duy vật Biện chứng.

Nước Việt Nam có quyền Độc lập, đã Độc lập và quyết giữ Độc lập. Đó là tất cả những gì “ Tuyên ngôn Độc lập“ đã nói tới bằng một thứ ngôn ngữ và chữ Việt độc lập và bởi một thiên tài suốt đời chiến đấu cho nền Độc lập dân tộc.

Tài liệu tham khảo:

1. David Nunan (1998), Nxb Giáo dục, Hà Nội.

2. Lương Văn Hy ( chủ biên) (2000), Ngôn từ, giới và nhóm xã hội, từ thực tiễn tiếng Việt,Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3. Michael Schudson, Sức mạnh truyền thông, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

4. Nguyễn Quang (2002), Giao tiếp và giao tiếp văn hoá, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội.

5. Steven A. Beebe& Susan J. Beebe (1999), Public Speaking,  Nxb ĐHQG TP HCM.

6. Tim Hindle (2004), Nghệ thuật thuyết trình, Nxb VHTT, Hà Nội.

7. VNU- HCM City (2001), Public Speaking, Nxb VNU HCM.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.