Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 05/12/2007 21:48 (GMT+7)

Nghiên cứu ứng dụng và một số nghiên cứu cơ bản có nhất thiết phải công bố quốc tế?

Công bố quốc tế cũng là đỉnh cao mà nghiên cứu ứng dụng cần hướng tới

Mục đích của nghiên cứu (research) là việc tìm ra các tri thức mới và có giá trị. Giá trị của nghiên cứu hoặc ở việc góp phần làm phong phú thêm những hiểu biết của con người, hoặc ở việc góp phần vào việc làm ra của cải vật chất cho xã hội. Các tri thức tìm được do nghiên cứu vì vậy, trừ những nghiên cứu có mục tiêu hoặc ràng buộc đặc biệt, đều cần được công bố, thường dưới dạng hoặc các ấn phẩm hoặc các bằng phát chế phát minh. Công bố là cách phổ biến nhất để đánh giá tính mới mẻ và giá trị của kết quả nghiên cứu.

Các nghiên cứu thường được phân loại theo nghiên cứu cơ bản (basic research, pure research, fundamental research) hoặc nghiên cứu ứng dụng (applied research), mặc dù một số nghiên cứu có thể  mang cả tính chất của nghiên cứu cơ bản và ứng dụng.    

Nghiên cứu cơ bản nhằm tìm ra những tri thức khoa học làm nền tảng cho các nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng khác, như việc chứng minh ức đoán Poincaré trong toán học, việc tìm các genes gây ra bệnh tật, hay việc xác định mô hình thống kê của tiếng Việt. Nghiên cứu cơ bản thường được bắt nguồn bởi tính tò mò và ham thích khám phá khoa học, và thường không cần phải ràng buộc bởi bất kỳ ứng dụng cụ thể nào. Phần lớn những vấn đề của nghiên cứu cơ bản là những chuyện của chung thiên hạ, không của riêng một xứ sở quốc gia nào, và do vậy giá trị của nghiên cứu cơ bản thường là giá trị toàn cầu. Giá trị của các nghiên cứu cơ bản trước hết và chủ yếu được đánh giá bởi việc công bố trên các tạp chí quốc tế (đối với một số ngành khoa học, việc công bố kết quả tại các hội nghị quốc tế hàng đầu cũng có giá trị rất cao [1]). Giá trị của các nghiên cứu cơ bản sẽ được khẳng định thêm nếu sau khi công bố, kết quả nghiên cứu này được nhiều nghiên cứu khác hoặc việc sản xuất dùng đến, thể hiện qua chỉ số trích dẫn (citation) hoặc giá trị của hàng hóa được tạo ra. Ai làm khoa học cũng đều biết, hoặc cần phải biết, các nơi để công bố kết quả có “trọng lượng” rất khác nhau, từ “thượng vàng” đến “hạ cám”. Các tạp chí hoặc hội nghị quốc tế nói chung có giá trị hơn các tạp chí và hội nghị quốc gia. Thứ hạng của các tạp chí hoặc hội nghị quốc tế trong mỗi ngành cũng đều được xác định, thể hiện qua hệ số ảnh hưởng (impact factor) hoặc thứ hạng được xác định bởi nhiều tổ chức khác nhau [2]. Một bài đăng trên Nature hoặc Science, như bài ngày 9 tháng 11 trên Science về tính phân bố không đồng đều của các tia vũ trụ trong dự án quốc tế Pierre Auger, trong đó có đóng góp của nhóm tác giả Việt Nam, có giá trị cao hơn rất nhiều lần, thậm chí hàng chục lần, so với một bài ở một tạp chí vật lý thông thường khác.

Nghiên cứu ứng dụng nhằm tìm ra các tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề đặt ra từ nhu cầu thực tế, như việc tìm cách làm các tấm vật liệu lợp nhà chống nóng với giá rẻ, việc tìm cách tạo ra nước ngọt ở những vùng nước mặn, hay việc tìm cách làm ra các chương trình máy tính dịch tự động tiếng Anh sang tiếng Việt. Rất nhiều đề tài nghiên    cứu ứng dụng ra đời từ nhu cầu thực tế của các ngành nghề, các vùng miền, và liên quan đến đặc tính tự nhiên, địa lý, xã hội của những xứ sở khác nhau (như việc xử lý tiếng Việt trên máy tính trước hết là nhu cầu của người Việt). Cũng cần nói thêm về tính mới mẻ của nghiên cứu ứng dụng. Đã nghiên cứu thì phải nhằm đến việc tìm ra tri thức mới, nhưng tri thức để giải quyết các vấn đề thực tế, nhất là các tri thức liên quan đến sản xuất, không luôn được công bố như các tri thức khoa học cơ bản, do vậy tính mới mẻ của nghiên cứu ứng dụng nhiều khi có thể là tương đối, tức chừng mực nào đó có thể không hoàn toàn mới trong kho tàng tri thức của nhân loại nhưng là mới với một cộng đồng, một đất nước. Thí dụ như nếu ta nghiên cứu tìm ra được cách chế tạo một sản phẩm quan trọng nào đó đã có trên thế giới để dùng trong nước với giá rẻ, thì tri thức này là mới và rất có giá trị với ta, nhưng không hẳn là mới với thiên hạ. Do vậy, tính cần thiết hay cấp thiết của các nghiên cứu ứng dụng có thể được nhấn mạnh hơn cả tính mới mẻ của chúng [3]. Giá trị thực tiễn của nghiên cứu ứng dụng nằm ở chỗ những tri thức tìm ra có thể dùng để giải quyết vấn đề thực tế đến đâu. Giá trị khoa học của nghiên cứu ứng dụng nằm ở chỗ nghiên cứu đó có thể viết ra thành những phương pháp chung hoặc bài học cho mọi người cùng dùng, công bố dưới dạng các ấn phẩm.

Ngoài ra, rất cần phân biệt sự khác nhau giữa nghiên cứu ứng dụng và ứng dụng (application). Ứng dụng không nhằm vào việc tìm ra tri thức mới, mà vào việc dùng các tri thức đã biết để làm những việc cụ thể. Do ranh giới không luôn rõ ràng, nghiên cứu ứng dụng và ứng dụng rất hay bị lẫn lộn trong thực tế. Rất nhiều đề tài nghiên cứu tiến sĩ ở ta, thay vì phải làm một nghiên cứu cơ bản hoặc nghiên cứu ứng dụng để tìm ra tri thức mới, lại chủ yếu thực hiện một ứng dụng. Ở nhiều cơ quan nghiên cứu của ta, thay vì được giao nhiệm vụ và cấp kinh phí để làm nghiên cứu nhằm tìm ra cách thực hiện các việc quan trọng (của Bộ, của ngành hay đất nước), thì việc làm nghiên cứu gì lại thường bị thả nổi, và rất nhiều nhóm nghiên cứu chủ yếu đi làm các ứng dụng, vốn là việc của các doanh nghiệp.

Từ những phân tích trên, tôi cho là:

1. Đã làm nghiên cứu cơ bản thì phải công bố. Giá trị của một nghiên cứu cơ bản trước hết được nhìn nhận bằng nơi nghiên cứu này công bố được kết quả. Các công bố quốc tế nói chung có giá trị cao hơn các công bố trong nước. Ai làm khoa học khi có kết quả vốn cũng đều phải tự đánh giá xem có thể gửi đăng ở đâu. Nói chung ta ít công bố quốc tế vì kết quả nghiên cứu của ta còn chưa đủ hay, chưa vào được những nơi “danh giá”, chứ không phải không cần và “không nhất thiết” cần. Ở đây phải chăng cần lòng trung thực và tính không ngụy biện. Lĩnh vực nghiên cứu cơ bản nào không được đem công bố quốc tế thì người chịu trách nhiệm cần có lý giải thỏa đáng, sòng phẳng. Rạch ròi vậy để tránh chuyện do không làm được nghiên cứu có chất lượng sánh với thiên hạ thì đặt ra việc không cần công bố với thiên hạ. Phải nói thêm là hầu hết những người đứng đầu các cơ quan khoa học của ta đều đã có thời làm các luận án, tức làm nghiên cứu, và đều đã phải “sống chết” với chuyện công bố, nhất là công bố quốc tế.

2. Với hầu hết các nghiên cứu ứng dụng, công bố cũng là một thước đo chính để khẳng định giá trị khoa học. Trừ ra những đề tài không được phép công bố hoặc có giá trị thực tiễn nhưng còn ít giá trị khoa học, nghiên cứu ứng dụng cũng rất cần công bố. Và khi đã công bố thì theo tôi không có hoặc rất ít lĩnh vực chỉ có thể công bố trong nước mà không thể công bố quốc tế, kể cả những việc làm ở Việt Namcho những nhu cầu của Việt Nam . Có chăng chỉ là nghiên cứu của ta chưa đủ tầm và chất lượng để công bố được với thiên hạ. Việc nêu vấn đề rằng nghiên cứu ứng dụng “có nhất thiết phải công bố quốc tế” không, theo tôi chưa hợp lý. Hợp lý hơn phải chăng là câu hỏi: đối với mỗi đề tài nghiên cứu ứng dụng cụ thể, có cần phải công bố kết quả không? Nếu đã thấy là cần công bố, thì công bố quốc tế vẫn là đỉnh cao mà nghiên cứu này cần hướng đến hoặc mong ước đến được. Ngành khoa học nào cũng có rất nhiều tạp chí và hội nghị quốc tế tốt để công bố các kết quả nghiên cứu ứng dụng.

3. Cần chú ý là các tạp chí và hội nghị quốc tế cũng rất thượng vàng hạ cám. Chỉ các chuyên gia của mỗi chuyên ngành mới biết chất lượng của các nơi công bố quốc tế trong ngành mình hay dở thế nào. Rất tiếc là theo quan sát của tôi, nhiều vị đứng đầu các ngành khoa học, các cơ quan khoa học, cũng khá lơ mơ với những thứ này (có thể vì đã lâu không làm khoa học và không theo dõi tiến bộ trong ngành mình).

4. Việc không phân biệt giá trị khác nhau của các loại công bố khoa học sẽ góp phần làm hủy diệt những nghiên cứu khoa học chất lượng cao, nuôi dưỡng những nghiên cứu “hàng chợ”.

5. Mặc dù mong muốn của ta là có các công bố quốc tế, nhưng việc này không dễ trong khi nền khoa học của ta còn yếu và dường như đang ngày càng yếu hơn. Các nhà quản lý khoa học và người làm khoa học nên đặt ra các mục tiêu công bố quốc tế hợp sức cho từng giai đoạn, như trước hết hướng đến các tạp chí/hội nghị hạng hai, hạng ba, trước khi hướng đến các tạp chí/hội nghị hàng đầu, trừ những ngành ta có lực lượng và truyền thống như toán học và vật lý lý thuyết. Làm nghiên cứu ra kết quả rồi, biết cách viết để các kết quả công bố được cũng là một việc không đơn giản, cần phải học, cần phải có cách huấn luyện cho cán bộ khoa học. Trước hết là các lãnh đạo các cơ quan khoa học cần tổ chức huấn luyện cho nhân viên của mình.

“Khả năng thực hiện nghiên cứu khoa học là hết sức hạn chế ở nhiều nước đang phát triển. Trong khi không phải mọi đất nước đều cần tiến hành nghiên cứu cơ bản ở nhiều lĩnh vực khác nhau, mỗi đất nước cần phải xem xét các loại nghiên cứu khoa học và công nghệ có thể trực tiếp đóng góp vào sự phát triển của mình. Khi nhìn vào đòi hỏi chi phí lớn và những khó khăn của nghiên cứu khoa học, có lẽ câu hỏi cần hỏi nhất là: đâu là mức tối thiểu các hoạt động khoa học và công nghệ cần phải có để đạt được các mục tiêu của quốc gia?”.

(“The capacity to carry out scientific research is extremely limited in many developing countries. While not every country needs to conduct basic research in a variety of fields, each country must consider the types of scientific and technological research that can directly contribute to its development. In view of the costs and other difficulties, per-haps the right question to ask is: what is the minimum level of scientific and technologi-cal capacity necessary to achieve national goals?”).

Khi bàn về chuyện công bố các kết quả khoa học do được hỏi, tôi vẫn cho đây là một việc phụ trong câu chuyện khoa học Việt Nam . Vấn đề đáng quan tâm hơn rất nhiều theo tôi là chúng ta cần xác định làm nghiên cứu cơ bản nào, nghiên cứu ứng dụng nào, tỷ lệ của nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là bao nhiêu, làm sao có các chính sách tốt để đạt được mục tiêu, làm sao nuôi dưỡng đội ngũ khoa học để họ làm được việc khi đã bỏ rất nhiều tiền để đào tạo họ, v.v.? Khi lo những điều này, chuyện “công bố quốc tế” chắc không phải là câu hỏi rất “nóng” nữa. Xin nêu lại một ý trong một tài liệu của WorldBank và UNESCO để chúng ta suy nghĩ [4].


Chú thích

[1]  “‘Văn hóa ngành’ trong tiêu chí đánh giá”,http://www.tiasang.com.vn/news?id=1771.

[2] Chẳng hạn chỉ cần tìm với cụm từ “computer science journal ranking” hoặc “computer science conference ranking” trên Google là có thể thấy các thứ hạng này trong ngành khoa học máy tính.

[3] Chú ý rằng đề tài nào cũng phải thuyết minh về “tính cần thiết” của mình và cụm từ này thường được nêu một cách khá định tính.

[4] “Peril and Promise: Higher Education in Developing Countries”, World Bank and UNESCOhttp://web.worldbank.org/WBSITE/EXTERNAL/TOPICS/EXTEDUCATION/0,,contentMDK:
20298183~menuPK:617592~pagePK:148956~piPK:216618~theSitePK:282386,00.html

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.