Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 16/02/2024 15:25 (GMT+7)

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế: Người làm sống dậy dòng tranh Đông Hồ

Làng Đông Hồ (tỉnh Bắc Ninh) nổi tiếng với nghề làm tranh dân gian, mang đậm bản sắc văn hóa truyền thống. Giờ đây, còn 3 gia đình bám trụ với nghề. Một trong số đó là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế (88 tuổi).

Sinh ra trong gia đình có truyền thống làm tranh lâu đời, nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã gắn bó và yêu thích tranh Đông Hồ từ khi 11 tuổi. Tuy nhiên, lâu nay, nghề làm tranh tại làng Hồ gần như bị rơi vào quên lãng khi hầu hết hộ gia đình chuyển sang làm nghề đồ gỗ, nhuộm giấy, đặc biệt là làm hàng mã.
Nghe nhan Nguyen Dang Che: Nguoi lam song day dong tranh Dong Ho
 Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế chia sẻ về những bức tranh Đông Hồ.
Đau đáu với nỗi lo mai một nghề làm tranh truyền thống, ông Nguyễn Đăng Chế và các con cháu đã về làng sau hơn 30 năm xa quê với quyết tâm vực dậy dòng tranh cổ.
Đến nay, Trung tâm lưu giữ, bảo tồn dòng tranh dân gian Đông Hồ của gia đình nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế 15 năm. Đây là điểm đến phục vụ du khách đến tham quan, tìm hiểu, mua tranh Đông Hồ.
Miệt mài gìn giữ tinh tuý của nghề
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cho biết, dòng họ Nguyễn Đăng đến đời ông là 20 thế hệ, hơn 500 năm làm nghề này. Ông được làm tranh từ lúc 11, 12 tuổi, đến nay hơn 70 năm làm nghề.
Nghe nhan Nguyen Dang Che: Nguoi lam song day dong tranh Dong Ho-Hinh-2
 Người thợ rất tỉ mỉ, cẩn thận trong công đoạn khắc gỗ
Năm 1957, học hết trung cấp, ông được bố mẹ cho học ở trường Quốc gia Mỹ nghệ (nay là Đại học Mỹ thuật Công nghiệp). Khi nhà trường biết gia đình có nghề làm tranh, ông được các thầy truyền tải về giá trị văn hóa của tranh Đông Hồ. Ông đã say sưa với nó từ năm 1960 đến bây giờ.
Tuy nhiên, ở làng khi đó đã không còn ai theo nghề làm tranh, kể cả gia đình ông. Năm 1992, sau 32 năm xa quê, ông Chế quyết định nghỉ hưu, về làng khôi phục nghề làm tranh. Ông tập hợp tất cả con cháu (con trai, gái, dâu, rể, các cháu nội, ngoại) cùng làm tranh Đông Hồ. Đến nay, không ngày nào gia đình ông không có khách, kể cả trong nước lẫn quốc tế. Ông cũng tự hào vì dòng tranh Đông Hồ “sống dậy” được như bây giờ.
Nghệ nhân 88 tuổi này cho hay, khác với các dòng tranh dân gian khác, tranh Đông Hồ có những điểm đặc biệt rất riêng. Đó là sử dụng toàn bộ chất liệu thiên nhiên làm tranh.
Chẳng hạn, giấy làm từ cây dó. Màu trắng làm từ con điệp, nghiền nhỏ trộn với hồ nếp quét lên. Màu đỏ từ sỏi đỏ nhặt từ trên núi hay hoa hoè, nghiền nát. Màu đen làm bằng than của lá tre, xanh từ lá tràm...
Những nguyên liệu này được trộn lẫn với nhau, sau đó hoà với lượng bột nếp tạo một lớp hồ, làm cho giấy tranh cứng hơn sau khi phơi khô.
Khó khăn nhất là tìm kiếm các con điệp để làm màu trắng. Không phải ở đâu cũng tìm được nguyên liệu này. Ông phải lên tận nơi dân tộc Nùng ở Bắc Giang tìm mua lá tràm về làm màu xanh. Đặc biệt, việc đốt lá tre lấy than để làm màu đen đòi hỏi kỹ thuật cao.
Nghe nhan Nguyen Dang Che: Nguoi lam song day dong tranh Dong Ho-Hinh-3
 Các thành viên trong gia đình ông Nguyễn Đăng Chế đều theo nghiệp làm tranh.
Đưa dòng tranh dân gian ra thế giới
Để dòng tranh dân gian Đông Hồ có thể bắt kịp xu thế mà vẫn giữ nguyên giá trị truyền thống, gia đình Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế duy trì các công đoạn truyền thống làm tranh, từ chất liệu, cách làm, đến màu sắc. Nguyên tắc về kỹ thuật khắc ván, in tranh hầu như vẫn được gìn giữ và bảo tồn. Bởi nếu thay đổi, đó sẽ không còn là tranh Đông Hồ nữa.
Nghe nhan Nguyen Dang Che: Nguoi lam song day dong tranh Dong Ho-Hinh-4
 Tranh Đông Hồ được ứng dụng vào sản phẩm đương đại, mang đến sự kết hợp tuyệt vời giữa truyền thống và hiện đại.
Nếu có chăng, sự thay đổi chỉ ở đề tài của tác phẩm. Những người đã đến với làng Hồ, được ngắm tranh Đông Hồ, đều không thể quên đường nét, sắc màu chân quê, đích thực Việt Nam.
Nhiều người lo nghề làm tranh Đông Hồ đã “chết”, nhưng Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế khẳng định, nó sẽ “sống lại”. Ông rất vui mừng khi chính quyền quan tâm đến tranh Đồng Hồ. Tỉnh Bắc Ninh đã nỗ lực hoàn thiện hồ sơ trình UNESCO để dòng tranh này sớm được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
Nghe nhan Nguyen Dang Che: Nguoi lam song day dong tranh Dong Ho-Hinh-5
 Tranh Đông Hồ sử dụng toàn bộ chất liệu thiên nhiên
Điều khiến ông mừng nhất là yêu nghề, lăn lộn giữ lấy nghề của cha ông và sống được với nghề. Không chỉ khôi phục tranh Đông Hồ, ông và cả gia đình 3 thế hệ đều sống nhờ nghề làm tranh. Bên cạnh thị trường trong nước, ông cũng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài như Hàn Quốc, Pháp, Trung Quốc…
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế cũng thành lập Trung tâm Giao lưu Văn hoá Dân gian tranh Đông Hồ trên diện tích 6.000 m2 của gia đình. Tại đây, hơn 100 bản khắc gỗ cổ và gần 1.000 bản khắc mới được ông thu thập, lưu giữ từ năm 1992 đến nay.
Đây là nơi chuyên khôi phục bản khắc cổ, sản xuất, dạy nghề cho con em địa phương và giới thiệu sản phẩm tới du khách trong, ngoài nước. Du khách tới tham quan được tận mắt tìm hiểu công đoạn sản xuất tranh, cũng như chiêm ngưỡng những tác phẩm tranh Đông Hồ.
Du khách cũng có thể trải nghiệm quy trình hoàn thiện một bức tranh với kỹ thuật đã được lưu truyền hàng trăm năm nay.

Xem Thêm

Tin mới

Tuổi trẻ Liên hiệp Hội Việt Nam hướng tới chào mừng Đại hội IX bằng những công trình thiết thực
Ngày 25/8, Đoàn Thanh niên Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) thực hiện công trình thanh niên hướng tới chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031, gồm hai hoạt động chính là cải tạo, chỉnh trang và gắn biển “Vườn hoa Thanh niên” và số hóa Phòng Truyền thống Liên hiệp Hội Việt Nam.
489 đại biểu chính thức tham dự Đại hội Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX
Ngày 24/8 tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) đã tổ chức gặp mặt đại diện các cơ quan báo chí, thông tin về Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031. Theo Ban Tổ chức, Đại hội sẽ diễn ra trong hai ngày 27 và 28/8 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Hà Nội, với chủ đề “Đoàn kết - Sáng tạo - Đột phá - Phát triển”.
Phú Thọ: Đẩy mạnh truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch và tuân thủ chất lượng sản phẩm
Ngày 21/8/2026, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Phú Thọ, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Phú Thọ, trực tiếp là Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, phối hợp với Hội Mã số Mã vạch Việt Nam tổ chức Hội nghị tuyên truyền, phổ biến kiến thức về truy xuất nguồn gốc, mã số mã vạch, ghi nhãn hàng hóa và công bố tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm.
Lào Cai: Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng làm Trưởng ban Tổ chức Hội thi
Ngày 20/8, Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai Nguyễn Tuấn Anh đã ký ban hành Quyết định số 2945/QĐ-UBND về việc kiện toàn và thành lập Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật cùng Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng cấp tỉnh. Phó Chủ tịch UBND tỉnh Giàng Quốc Hưng được tín nhiệm giao trọng trách Trưởng ban.
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 8/2026: tập trung hoàn tất công tác tổ chức Đại hội IX
Chiều 22/8, Ban Chấp hành Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức hội nghị thường kỳ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 8, triển khai nhiệm vụ trọng tâm tháng 9/2026 và báo cáo công tác chỉ đạo chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc LHHVN lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031.
Vĩnh Long: Nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp hữu cơ
Ngày 21/8/2026, tại xã An Phú Tân, tỉnh Vĩnh Long, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Chi cục Môi trường tỉnh và UBND xã An Phú Tân tổ chức Hội nghị tập huấn tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng đến sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ.
GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.