Để tri thức khoa học không nằm trên giấy
Phổ biến kiến thức KH&CN cần đi vào những vấn đề người dân và địa phương thực sự cần, gắn với mô hình ứng dụng, sản xuất và tạo ra giá trị thiết thực.
Từ yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hoạt động phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ (KH&CN) tại địa phương đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ. Không chỉ truyền đạt kiến thức, hoạt động này cần gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí và xây dựng xã hội học tập.
Báo Tri thức và Cuộc sống có cuộc trao đổi với ông Hồ Đình Lưỡng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Phú Thọ, về vấn đề này.

Ông Hồ Đình Lưỡng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Phú Thọ.
PHỔ BIẾN KIẾN THỨC CẦN CHUYỂN TỪ HÀN LÂM SANG CUNG CẤP GIẢI PHÁP ỨNG DỤNG
- Thưa ông, từ góc nhìn của một người làm công tác khoa học và công nghệ, yêu cầu đổi mới hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN tại địa phương hiện nay được đặt ra như thế nào?
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I của Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam ngày 18/5/1963, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự và đã giao nhiệm vụ cho các nhà khoa học thực hiện truyền bá khoa học, kỹ thuật cho người dân. Người nói: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất lao động, không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi”.
Tinh thần đó đặt ra yêu cầu hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN phải hướng tới phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng.
Trong bối cảnh hiện nay, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng xác định 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030, trong đó nhấn mạnh tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy và hành động, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị khóa XIII về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cũng được coi như một cú hích quan trọng để tạo động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Trước yêu cầu đó, hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN trong giai đoạn mới cần được xác định là nhiệm vụ chiến lược, trọng tâm của đội ngũ trí thức; gắn với sứ mệnh truyền bá, phổ biến rộng rãi tri thức cho toàn dân, góp phần nâng cao dân trí và xây dựng xã hội học tập văn minh, hiện đại.
- Vậy theo ông, địa phương cần bắt đầu từ đâu để tạo chuyển biến trong hoạt động này?
Trước hết phải tiếp tục nâng cao nhận thức, đột phá về đổi mới tư duy, tạo xung lực mới, khí thế mới trong toàn xã hội về phát triển khoa học, công nghệ thông qua các hoạt động truyền thông trên nền tảng số.
Cần quyết tâm triển khai sâu rộng phong trào “học tập số”, phổ cập, nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ, kiến thức số trong toàn dân.
Cùng với đó là đổi mới phương thức truyền thông, thực hiện chuyển đổi số toàn diện trong hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN. Có thể áp dụng các ứng dụng trên nền tảng số, trí tuệ nhân tạo; tăng cường hợp tác, kết nối tri thức trong nước, trong khu vực và trên toàn thế giới để xây dựng nguồn dữ liệu khoa học tin cậy, chính xác.
Địa phương cần có thêm nguồn dữ liệu mở để nghiên cứu, trao đổi học thuật và áp dụng trong thực tiễn. Đồng thời, tận dụng tối đa ưu thế của báo chí chính thống, trang tin điện tử và mạng xã hội để lan tỏa thông tin chính xác.
- Một vấn đề được đặt ra là làm sao để kiến thức khoa học thực sự đi vào sản xuất và đời sống. Ông nhìn nhận vấn đề này ra sao?
Theo tôi, cần tăng cường liên kết 4 nhà: Nhà nước - Nhà khoa học - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông trong quản lý chuỗi sản phẩm đầu ra.
Hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN phải gắn với việc bắt tay ngay vào triển khai thực hiện các mô hình tại địa phương với sự hỗ trợ của nhà trường, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp.
Mục tiêu là để nhà nông, người dân được nâng cao kiến thức, kỹ năng, tự tạo ra sản phẩm và bán được sản phẩm từ chính sự cần cù, sáng tạo và nền tảng tri thức mang lại; giúp người dân làm giàu trên chính quê hương mình.
-Như vậy, nội dung phổ biến kiến thức cũng cần thay đổi?
Đúng vậy. Cần đổi mới mạnh mẽ nội dung phổ biến kiến thức, chuyển từ phổ biến kiến thức hàn lâm sang cung cấp giải pháp ứng dụng thương mại tại địa phương.
Cần lựa chọn những nội dung cấp thiết và tập trung phổ biến những mô hình ứng dụng bảo đảm khả thi, hiệu quả và cam kết, kiểm chứng về mặt khoa học, công nghệ.
Đồng thời, từng bước xây dựng mạng lưới chuyên gia, giảng viên, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài kết nối với chuyên gia quốc tế để chia sẻ tri thức mới, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho địa phương.
XÃ HỘI HÓA CÁC NGUỒN LỰC TRONG PHỔ BIẾN KIẾN THỨC KH&CN
- Trong quá trình chuyển mạnh sang nền tảng số, vấn đề an ninh mạng và an toàn dữ liệu cần được đặt ra như thế nào, thưa ông?
Đây là yêu cầu phải luôn tuân thủ. Hoạt động phổ biến kiến thức khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia phải tuân thủ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu, an toàn thông tin của tổ chức và cá nhân.
- Một trong những giải pháp được ông đề cập là xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về KH&CN. Việc này có ý nghĩa gì đối với người dân?
Cần tập trung phối hợp với các ngành, đơn vị nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) của địa phương về lĩnh vực khoa học, công nghệ; tích hợp và chuẩn hóa dữ liệu để toàn dân được tiếp cận và ứng dụng rộng rãi.
Cùng với dữ liệu, cần chú trọng đào tạo và nâng cao kỹ năng số cho nhân dân, đặc biệt tại các vùng nông thôn, miền núi, nơi khả năng tiếp cận công nghệ còn hạn chế.
Có thể ứng dụng và phát triển các nền tảng số thân thiện, dễ sử dụng và có ngôn ngữ bản địa để hỗ trợ người dân tiếp cận, cập nhật thông tin khoa học, công nghệ mới.
- Theo ông, nguồn lực nào cần được huy động để hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN đạt hiệu quả?
Cần thực hiện xã hội hóa các nguồn lực trong thực hiện các hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN.
Trong đó, cần huy động sự tham gia tích cực của viện nghiên cứu, nhà trường, doanh nghiệp; trách nhiệm, tâm huyết của các chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành trong thực hiện chuyển đổi số về lĩnh vực KH&CN tại địa phương.
Qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân.
- Một hoạt động muốn phát triển bền vững cũng cần có cơ chế đánh giá, nhân rộng. Với phổ biến kiến thức KH&CN thì sao, thưa ông?
Cần định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN tại địa phương.
Đồng thời, nhân rộng, lan tỏa, tôn vinh, khen thưởng các mô hình lao động sáng tạo, phong trào “học tập số” tại cơ sở.
Có thể khẳng định rằng đổi mới hoạt động phổ biến kiến thức KH&CN không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết mà còn là chiến lược lâu dài.
Công tác này gắn chặt với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng đời sống nhân dân và kiến tạo xã hội học tập bền vững tại địa phương.
Để biến những giải pháp trên thành hiện thực, cần sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị, sự chủ động của mỗi người dân và sự sát cánh của các cơ quan, đơn vị, viện nghiên cứu, nhà trường, cộng đồng doanh nghiệp; cùng với đó là sự tâm huyết, trách nhiệm cống hiến của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong việc đưa tri thức khoa học đi vào cuộc sống thực tiễn.






