Đắk Lắk: Đưa công nghệ sinh học vào phát triển bền vững Đắk Lắk
---
Ngày 17/9/2026, tại phường Tuy Hòa (khu vực Đông Đắk Lắk), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ Đắk Lắk tổ chức Hội thảo “Thực trạng và giải pháp ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững tỉnh Đắk Lắk”. Hội thảo tập trung đánh giá thực trạng, làm rõ tiềm năng và đề xuất giải pháp đưa công nghệ sinh học vào sản xuất, chế biến và đời sống, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy phát triển bền vững.

Quang cảnh hội thảo
Từ tiềm năng đến những kết quả cụ thể
Đắk Lắk có nền nông nghiệp hàng hóa quy mô lớn, hệ sinh thái đa dạng và nguồn nguyên liệu phong phú, tạo dư địa để ứng dụng công nghệ sinh học trong chọn tạo, nhân giống, chế biến nông sản, phát triển dược liệu, xử lý phụ phẩm và bảo vệ môi trường.
Theo tham luận của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), Tây Nguyên hiện có khoảng 1,8 triệu ha đất đỏ bazan, chiếm hơn 70% diện tích đất bazan cả nước; riêng cà phê khoảng 710.000 ha, chiếm trên 90% diện tích cà phê cả nước. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển các ngành hàng lợi thế như cà phê, hồ tiêu, ca cao, sầu riêng, cây ăn quả và dược liệu.
Một kết quả nổi bật là công tác chọn tạo giống cà phê của WASI. Viện đã chọn tạo, được công nhận nhiều giống Robusta như TR4, TR9, TR11, TR13, TR14 và TR15. Trong điều kiện thâm canh, các giống đạt năng suất khoảng 5–7 tấn nhân/ha, chất lượng hạt tốt, có khả năng chống chịu bệnh gỉ sắt. Đáng chú ý, TR14 và TR15 chín muộn hơn các giống phổ biến khoảng 20–30 ngày, góp phần giảm áp lực thu hoạch tập trung và tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.
Cùng với chọn tạo giống, WASI đã hoàn thiện quy trình nhân giống cà phê bằng nuôi cấy mô và nghiên cứu hệ thống nuôi cấy ngập chìm tạm thời (Bioreactor), hướng tới tạo cây giống đồng đều, sạch bệnh. Kỹ thuật ghép mini phục vụ Chương trình Tái canh cà phê Quốc gia đạt tỷ lệ sống trên 90%, góp phần tạo cây giống chất lượng, hệ rễ khỏe và rút ngắn thời gian ươm cây.
Công nghệ vi sinh và enzyme cũng được ứng dụng trong sơ chế cà phê theo phương pháp ướt, honey và chế biến ca cao, góp phần nâng cao chất lượng, hương vị sản phẩm.
Tại Đắk Lắk, theo tham luận của Sở Khoa học và Công nghệ, công nghệ sinh học thời gian qua được ứng dụng khá rõ trong nông nghiệp và dược liệu. Một số mô hình sử dụng chế phẩm vi sinh xử lý chất thải chăn nuôi, ủ phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp, nấm đối kháng và chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh đã được triển khai. Tại một số vùng cà phê, sầu riêng và cây ăn quả, Trichoderma, EM, IMO và phân hữu cơ vi sinh được sử dụng để cải tạo đất, hạn chế bệnh hại, hướng tới giảm chi phí và bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, nuôi cấy mô, bảo tồn nguồn gen vi sinh vật, cây trồng bản địa và phát triển vùng nguyên liệu dược liệu đang tạo thêm cơ sở để hình thành những sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

TS. Phan Xuân Lĩnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk phát biểu khai mạc Hội thảo
Mở rộng không gian ứng dụng, nâng cao giá trị
Những kết quả bước đầu cho thấy dư địa ứng dụng công nghệ sinh học tại Đắk Lắk còn lớn. Tuy nhiên, để lĩnh vực này thực sự trở thành động lực phát triển, vấn đề quan trọng là đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất với quy mô phù hợp.
Theo tham luận của Sở Khoa học và Công nghệ, một số hạn chế hiện nay là nguồn lực đầu tư còn hạn chế, nhân lực chuyên sâu thiếu, cơ sở vật chất và thiết bị chưa đồng bộ; sản xuất còn nhỏ lẻ, liên kết chuỗi giá trị chưa mạnh. Sự tham gia của doanh nghiệp trong nghiên cứu, đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả khoa học còn hạn chế. Vì vậy, cần tiếp tục thu hẹp khoảng cách giữa phòng nghiên cứu với đồng ruộng, giữa kết quả đề tài với nhu cầu của doanh nghiệp và người sản xuất.
Từ thực tiễn đó, Đắk Lắk cần ưu tiên nghiên cứu các ngành hàng có lợi thế như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, ca cao, mắc ca và dược liệu; chú trọng chọn tạo giống có năng suất, chất lượng, khả năng chống chịu tốt; phát triển chế phẩm vi sinh, enzyme, công nghệ bảo quản, chế biến sâu, xử lý phụ phẩm và các sản phẩm sinh học phục vụ nông nghiệp xanh, kinh tế tuần hoàn.

Đại biểu Sở KH&CN tỉnh Đắk Lắk, trình bày tham luận
Một hướng nghiên cứu đáng chú ý được WASI chia sẻ tại hội thảo là Dự án BOLERO thuộc Chương trình Horizon Europe, tập trung nghiên cứu gốc ghép cà phê và ca cao có khả năng chống chịu hạn, sử dụng hiệu quả nước và dinh dưỡng. Việc kết hợp các công nghệ hiện đại như genomics, transcriptomics, metabolomics và phenomics mở ra hướng tiếp cận mới trong lựa chọn vật liệu giống thích ứng biến đổi khí hậu.
Đối với sầu riêng, WASI đang nghiên cứu cơ chế hấp thu và vận chuyển Cadimi trong cây, hướng tới lựa chọn giống, gốc ghép và xây dựng quy trình quản lý đất, dinh dưỡng, hệ vi sinh vật vùng rễ nhằm giảm tích lũy Cadimi trong quả, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường xuất khẩu.
Để kết quả nghiên cứu đi vào cuộc sống, cần tăng cường liên kết giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân. Trong đó, nhà khoa học cung cấp tri thức, công nghệ; doanh nghiệp tham gia đầu tư, tổ chức sản xuất, kết nối thị trường; người dân là chủ thể trực tiếp ứng dụng. Cùng với đó là phát triển nguồn nhân lực, nâng cấp phòng thí nghiệm, cơ sở nghiên cứu, ngân hàng nguồn gen và mở rộng hợp tác khoa học, công nghệ trong và ngoài nước.
TS. Phan Xuân Lĩnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội Đắk Lắk, đồng chủ trì hội thảo, cho biết: “Đắk Lắk có nhiều điều kiện để mở rộng ứng dụng công nghệ sinh học, nhất là trong nông nghiệp, khai thác tài nguyên sinh học và phát triển xanh. Khi thành tựu khoa học được đưa vào sản xuất, chế biến và bảo vệ môi trường, công nghệ sinh học sẽ góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, thu nhập người dân và tạo động lực cho phát triển bền vững”.
Từ nghiên cứu giống, nhân giống, chế phẩm sinh học đến chế biến nông sản, bảo tồn nguồn gen và phát triển dược liệu, công nghệ sinh học đang từng bước hiện diện trong đời sống kinh tế - xã hội của Đắk Lắk. Giai đoạn tới, yêu cầu đặt ra là tiếp tục biến kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, mô hình và chuỗi giá trị cụ thể, qua đó nâng cao giá trị nông sản, phát huy lợi thế tài nguyên sinh học và tạo nền tảng cho tăng trưởng xanh, bền vững./.






