Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật để phát triển bền vững ngành mỏ nước ta
Việc cung cấp nhân lực cho các hoạt động có liên quan đến khai thác và chế biến khoáng sản hầu hết đều do các trường cao đẳng nghề và các trường đại học chuyên ngành cung cấp.
Theo định hướng phát triển của ngành kinh tế nước ta giai đoạn 2005 - 2010 có tính đến năm 2025, hàng năm ngành khai khoáng phải đảm bảo cung cấp cho đất nước hàng trăm triệu tấn nguyên liệu khoáng và vật liệu xây dựng trong điều kiện khai thác khó khăn hơn, điều kiện địa chất mỏ phức tạp hơn.
Để hoàn thành tốt được nhiệm vụ kế hoạch sản xuất nói trên, việc cung cấp đủ nguồn nhân lực có chất lượng có tầm quan trọng đặc biệt trên phương diện vừa mở rộng quy mô đào tạo vừa đảm bảo chất lượng đào tạo. bên cạnh đó yêu cầu về nâng cao trình độ cho đội ngũ công nhân và cán bộ kỹ thuật đương chức nhằm cải thiện chất lượng lao động cũng cần phải đáp ứng.
Nắm bắt tình hình đó, Trường Đại học Mỏ - Địa chất trong những năm gần đây đã thực hiện việc mở rộng quy mô đào tạo và đa dạng hoá các hình thức đào tạo tương đối có kết quả.
Ngoài việc đào tạo các lớp chính quy cao đẳng và đại học ở trường, còn mở các lớp chính quy ở một số địa phương khác như Vũng Tàu, Quảng Ninh các lớp tại chức ở trường và ngoài trường bao gồm: tại chức, tại chức bằng hai, tại chức liên thông và liên thông chính quy.
Việc đa dạng hoá hình thức đào tạo đã góp phần thoả mãn yêu cầu học tập của công nhân và cán bộ kỹ thuật đương chức và cũng là một nguồn cung cấp cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp mỏ. Một số học sinh tại chức sau khi tốt nghiệp đã được cất nhắc lên các vị trí công tác mới ở cấp quản đốc, phó trưởng phòng, chánh, phó giám đốc xí nghiệp mỏ.
Học sinh đào tạo chính quy là nguồn cung cấp cán bộ kỹ thuật cho ngành khai khoáng trên bình diện rộng từ Trung ương đến các địa phương. Hầu hết học sinh tốt nghiệp đều có việc làm và không ít trong số họ đã nhanh chóng trưởng thành và đảm nhiệm những trọng trách ở các doanh nghiệp sản xuất mỏ, cũng như trở thành những chuyên viên làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, quản lý và tư vấn. Không ít học sinh khoá 41 – 42 tốt nghiệp ở trường đã trở thành quản đốc và trưởng phòng kỹ thuật…
Còn nhớ, từ những năm trước thập kỷ 90 của thế kỷ trước, hầu hết các giám đốc của các doanh nghiệp mỏ lớn ở nước ta đều do những kỹ sư tốt nghiệp ở nước ngoài đảm nhiệm. Ngày nay gần như 100% các cương vị đó đều do các kỹ sư tốt nghiệp từ các trường trong nước giữ trọng trách.
Đó là những ưu điểm nổi bật của việc đào tạo nhân lực chuyên ngành mà các cơ sở đào tạo ở nước ta đã thực hiện được trong thời gian qua. Tuy nhiên đứng trước yêu cầu phát triển mới, yêu cầu về hội nhập của nền kinh tế đất nước, yêu cầu về phát triển bền vững trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản, việc đào tạo nguồn nhân lực cho ngành mỏ cần phải có những chuyển biến sâu sắc, trong những vấn đề mà nhiều người quan tâm là chất lượng đào tạo.
Chất lượng đào tạo tại các trường phụ thuộc vào các yếu tố sau đây: Chất lượng đầu vào (trình độ học lực của học sinh được tuyển); chất lượng của đội ngũ thầy giáo; cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập (lớp học, thư viện, phòng thí nghiệm, bãi thực tập, giáo trình và bài giảng, sách tham khảo, phương tiện giảng dạy…); phương pháp giảng dạy và học tập; quy trình đánh giá kết quả học tập thường xuyên và tốt nghiệp; công tác quản lý giảng dạy và học tập; sự liên kết giữa nhà trường với các cơ quan nghiên cứu và cơ sở sản xuất.
Trước hết nói về chất lượng đào tạo
Trong những năm gần đây, công tác tuyển sinh vào các trường Đại học đã có những cải tiến đáng kể. Ba năm qua thực hiện chủ trương “3 chung” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đảm bảo công bằng hơn trong công tác tuyển sinh. Nhưng “3 chung” chỉ là như vậy chứ chưa có tác dụng mạnh mẽ đến chất lượng tuyển sinh. CHất lượng đầu vào cao hay thấp thực sự phụ thuộc vào chất lượng đào tạo ở các trường phổ thông. Nếu trong những năm tới chỉ tiến hành “thi một lần” vừa tốt nghiệp phổ thông vừa tuyển thẳng vào đại học cũng chỉ có tác dụng đơn giản hoá và tiết kiệm trong thi cử mà thôi. Bằng chứng cho việc này là sự thay đổi điểm sàn hàng năm phụ thuộc vào chất lượng học tập của học sinh phổ thông. Do chất lượng của nguồn cung cấp mà ngay trong một trường đại học điểm sàn áp dụng cho mỗi ngành học cũng khác nhau. Có năm, có ngành điểm sàn lấy vào rất thấp và đó là một trong những nguyên nhân giảm sút chất lượng đào tạo ở trường Đại học.
Bởi vậy, về lâu dài và cơ bản để đảm bảo chất lượng tuyển sinh phải tập trung vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập ở cấp phổ thông trung học.
Về đội ngũ cán bộ giảng dạy
Hiện nay đang là giai đoạn “chuyển thế hệ” của đội ngũ thầy giáo ở các trường, trong đó có trường Đại học Mỏ - Địa chất. Giai đoạn chuyển giao đã bắt đầu gần 10 năm nay nhưng “lỗ trống” để lại vẫn chưa bù đắp được do một số lớn thầy giáo có trình độ và kinh nghiệm đã nghỉ hưu. Việc tuyển cán bộ mới và bồi dưỡng để trở thành giảng viên ở trường đại học đang gặp khó khăn vì nguồn cung cấp hạn chế. Một số học sinh tốt nghiệp với điểm giỏi hay xuất sắc và có tính năng động cao không muốn ở lại trường vì thu nhập quá thấp không đủ trang trải cho cuộc sống hàng ngày. Họ tìm đến những doanh nghiệp trong nước hay liên doanh có mức thu nhập cao hơn 4 - 5 lần so với thu nhập của một cán bộ làm công tác giảng dạy ở nhà trường. Trong hoàn cảnh đó Nhà trường phải bắt buộc hạ tiêu chuẩn tuyển dụng nhưng không ít trong số đó lại không vượt qua kỳ thi tuyển công chức. Để bù vào chỗ thiếu hụt cán bộ giảng dạy nhiều bộ môn đã thực hiện một số biện pháp cấp bách như mời các thày về hưu trợ giúp, huy động lực lượng nghiên cứu sinh và nhờ cán bộ ngoài ngành giảng dạy để hoàn thành kế hoạch được giao. Mặc dầu vậy khối lượng công việc của các thày giáo đương chức vẫn rất căng thẳng. Số giờ giảng dạy hàng năm phải đảm đương gấp 3 - 5 lần định mức, ngoài việc giảng dạy một số lớp ở trường còn phải tham gia giảng dạy nhiều cơ sở ở bên ngoài ở những khu vực khác nhau cách trường khá xa. Điều đó không tránh khỏi sự trùng lặp thời khoá biểu và đương nhiên dẫn tới tình trạng dạy dồn, dạy bù, gây ra tình trạng học tập không bình thường, đặc biệt đối với các lớp chính quy tại trường.
Để giảm tình trạng quá tải, tạo điều kiện cho các thày giáo trẻ có thời gian để nâng cao trình độ, góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào tạo cần phải có quy mô đào tạo tương đối ổn định, cân đối với lực lượng thày giáo theo định biên và cơ sở vật chất hiện có.
Về cơ sở vật chất phục vụ đào tạo
Cơ sở vật chất của trường chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo hiện nay. Phòng thí nghiệm hiện đại chuyên cho ngành mỏ không có; chỉ có những thiết bị thí nghiệm đơn lẻ, thiếu đồng bộ, việc chuyển giao công nghệ các thiết bị thí nghiệm thiếu chuyên nghiệp; cái cần thì không có, cái có thì không dùng được. Giáo trình, bài giảng không kịp thay đổi, sách tham khảo tiếng Việt không có, sách tiếng nước ngoài hạn chế. Nguyên nhân của tình trạng này là đầu tư phòng thí nghiệm thiếu tập trung, thiếu kinh phí và thù lao quá thấp cho các tác giả viết sách.
Học tập lý thuyết là vậy, khâu thực hành còn yếu hơn do không có cơ sở thực tập chuyên ngành dành riêng cho trường, sự liên kết đào tạo giữa trường và các cơ sở sản xuất mặc dầu đã được quan tâm nhưng trong cơ chế hiện nay không cho phép học sinh thực tập dài ngày ở mỏ. Các đợt thực tập của học sinh biến thành những cuộc tham quan “cưỡi ngựa xem hoa”.
Để khắc phục tình trạng trên đã có dự định thay cho thực tập hay nói cho đúng hơn thay cho việc xem thực tế ngoài trời bằng xem trong phòng qua phương tiện nghe nhìn ghi lại những hoạt động cụ thể của các quá trình sản xuất trên mỏ hoặc qua mô hình động hiện trên màn hình vi tính. Đây là phương án có thể thay thế một phần thực tập ngoài trời và có khả năng thực hiện được nếu được cấp có thẩm quyền quan tâm, vì trở ngại cho vấn đề này “muôn thuở” vẫn là kinh phí, điều kiện thực hiện và thời gian.
Những tồn tại nói trên đã có từ lâu, bản thân các thầy, cô giáo và các nhà quản lý giáo dục đều nhận thấy nhưng các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có giải pháp. Cơ sở vật chất cho đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập ở các trường đại học. Không giải quyết vấn đề này kịp thời thì việc kêu gọi nâng cao chất lượng đào tạo chỉ là “khẩu hiệu” mà thôi.
Phương pháp giảng dạy và học tậo cũng như quy trình đánh giá kết quả học tập thường xuyên và tốt nghiệpcũng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo
Hiện nay các trường đang thực hiện quy trình đào tạo theo “tín chỉ” theo quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đây là phương thức giảng dạy và học tập mới đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng có kết quả. Một thời lượng và một lượng kiến thức nhất định sẽ quy định một tín chỉ và được đánh giá tổng hợp qua 3 loại điểm A, B, C bao gồm kết quả thi, kết quả kiểm tra giữa kỳ, kết quả làm bài tập và thí nghiệm, sinh hoạt ngoại khoá và thảo luận trên lớp, thời gian lên lớp… Để hoàn thành một tín chỉ thày và trò phải làm việc nhiều hơn, phải năng động hơn, phải chủ động chuẩn bị nhiều hơn.
Để thực hiện quá trình đào tạo theo “tín chỉ” có kết quả cần phải có những điều kiện sau đây:
1 – Thày phải có thì giờ nhiều hơn để chuẩn bị cho việc hoàn thành một “tín chỉ” ví dụ phải soạn nhiều bài tập, chuẩn bị nội dung cho các buổi thảo luận hay hoạt động ngoại khoá, chấm bài kiểm tra… Ngoài ra để có thể giải đáp những vấn đề mà học sinh nêu ra thày giáo cũng phải có thời gian để bồi dưỡng thực tế và lý thuyết. Điều đó có nghĩa là phải giảm tải giờ dạy và định mức giờ giảng phải tính đủ các yếu tố nói trên.
2 - Để có thể “đối thoại” với thày và thảo luận trong giờ học, học sinh phải có một trình độ hiểu biết nhất định. Kinh nghiệm thực tế cho thấy thường thì những học sinh có trình độ trung bình khá trở lên mới có hứng thú trong phát biểu và thảo luận các vấn đề đặt ra, còn những học sinh kém thường rất thụ động và không có ý kiến. Bởi vậy, để cho phương pháp học tập mới được thực hiện một cách rộng rãi, chất lượng học sinh tuyển vào phải đạt mức yêu cầu đặt ra. Mặt khác phỉa có “nguồn” cho các buổi thảo luận hoặc “chất vấn” thầy giáo, tức là những “gợi ý” để kích thích học sinh tìm hiểu vấn đề, cần phải có tài liệu tham khảo. “Gợi ý tốt nhất có lẽ là những băng ghi hình lại các hoạt động của mỏ. Học sinh nhìn thấy những cái mới mẻ mà trong lý thuyết đã học chưa hình dung hết sẽ là đầu đề cho các thày giáo và học sinh trao đổi, thảo luận. Bởi vậy, việc tận dụng những kết quả công nghệ thông tin qua phương tiện nghe nhìn cần được áp dụng để phục vụ việc giảng dạy và học tập của học sinh.
Vấn đề liên kết giữa nhà trường và các cơ sở sản xuấtđảm bảo học đi đôi với hành trong công tác đào tạo nhân lực cũng cần được quan tâm và có những giải pháp hữu hiệu trong thời kỳ mới. Trong giai đoạn nền kinh tế đất nước áp dụng cơ chế bao cấp sự liên kết giữa nhà trường và cơ sở sản xuất có thời gian đạt được rất tốt. Học sinh đến các mỏ thực tập không những chỉ xem mà còn tham gia thực hiện một số công đoạn trong dây chuyền sản xuất mỏ ngoài ra họ còn được tạo điều kiện đi lại và ăn ở thuận lợi tại mỏ. Trong những năm gần đây mối quan hệ đó không còn tồn tại, một mặt do cơ chế thị trường không cho phép học sinh có những ưu đãi như trước, thêm vào đó số học sinh các ngành hằng năm đến thực tập tại mỏ quá đông mỏ bị quá tải không đảm đương được. Từ đó mà học sinh ngày nay chỉ có thể đến mỏ để “xem” cho biết thế nào là mỏ mà thôi.
Thực tập là một mắt xích quan trọng trong quá trình đào tạo đang gặp khó khăn nhưng chưa có hướng giải quyết. Để học gắn liền với hành cần kiên trì và tìm cơ hội để hình thành các liên hợp “Trường học - sản xuất” hay “Viện nghiên cứu - Sản xuất” như trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh hay Viện Khoa học công nghệ Mỏ đã thực hiện có kết quả.
Để góp sức vào sự nghiệp đào tạo nhân lực có kỹ thuật cho ngành mỏ, các Viện nghiên cứu và Công ty tư vấn cần phải được xây dựng và phát triển xứng tầm với yêu cầu phát triển chung của ngành, phải đầu tư các cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu, đào tạo chuyên viên nghiên cứu đủ năng lực một mặt góp phần giải quyết những vấn đề kỹ thuật và công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản đặt ra, mặt khác cùng phối hợp với các trường trong việc nhận học sinh đến thực tập, cử cán bộ tham gia giảng dạy ở các trường, sử dụng phòng thí nghiệm chung để nghiên cứu. Đây là hình thức phối hợp giữa cơ quan nghiên cứu và các trường đại học rất có kết quả như nhiều nước trên thế giới đã làm.
Trong những năm tới, ngành khai khoáng ở nước ta sẽ bước vào giai đoạn phát triển mới. Tăng quy mô sản xuất, tiến hành chế biến sâu để tăng giá trị các nguyên liệu khoáng đã khai thác nhằm đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu trong điều kiện nguồn nguyên liệu khoáng ngày càng cạn kiệt, điều kiện khai thác rất khó khăn, phải áp dụng những công nghệ khai thác mới chưa từng áp dụng trước đây ở nước ta: Công nghệ khai thác với việc hạ thâp mức nước ngầm, công nghệ đặc biệt khai thác hầm lò các vỉa than nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng, các vỉa than có tính tự bốc cháy/ Các mỏ lộ thiên và hầm lò đều khai thác xuống sâu, phải giải quyết hàng loạt các vấn đề như thoát nước,vận tải ở mỏ sâu, sự sụt lở bờ mỏ, sự bục nước và thoát khí mê tan trong hầm lò, vấn đề thông gió, công nghệ khai thác đảm bảo thân thiện với môi trường, vấn đề hoàn thổ trong và sau khai thác…
Điều đó đặt ra cho các trường đào tạo nghề và các trường đại học không những tiến hành cải cách dạy và học mà còn phải cân nhắc đến việc đổi mới chương trình và nội dung các môn học cho phù hợp với tình hình phát triển mới.
Một đặc điểm khác cần quan tâm là trong điều kiện nước ta trong số 63 tỉnh thành không ít địa phương có hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản. Để chấm dứt tình trạng khai thác bừa bãi, lãng phí tài nguyên, mất an toàn và phá hoại môi trường, các trường dạy nghề các các trường đại học phải đào tạo và cung cấp đủ nguồn nhân lực có kỹ thuật và quản lý mỏ cho các địa phương nói trên. Theo ý kiến cá nhân, trong những việc cần làm để nâng cao chất lượng đào tạo đại học hiện nay nên tập trung chú ý vào hình thức đào tạo chính quy. Đừng để hình thức đào tạo chính quy biến tướng sang hình thức không chính quy do hiện tượng quá tải của hệ thống đào tạo hiện nay. Như mọi người đều biết, học sinh chính quy sau khi tốt nghiệp sẽ là nguồn cung cấp nhân lực có trình độ đại học cho tất cả các doanh nghiệp sản xuất mỏ ở các tập đoàn và tổng công ty, các sở công nghiệp, các viện nghiên cứu và công ty tư vấn.
Ổn định quy mô đào tạo ở mức hợp lý, ổn định và nâng cao chất lượng đội ngũ thày giáo, tăng cường cơ sở vật chất cho đào tạo là cơ sở để thực hiện có kết quả quy trình đào tạo theo “tín chỉ” mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra.
Phấn đấu để nhanh chóng một số ngành đào tạo trở thành ngành có thương hiệu và tiến tới trường đại học chuyên ngành có thương hiệu, sánh kịp với các nước trong khu vực.








