Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 14/04/2009 01:04 (GMT+7)

Muối không thiếu, chỉ thiếu qui hoạch

Thiếu muối vào giữa vụ muối

Theo Tổng công ty Muối, mỗi năm nước ta cần từ 1,1 đến 1,2 triệu tấn muối. Trong đó, muối ăn khoảng 500 nghìn tấn, còn lại là muối phục vụ chế biến công nghịêp và muối dùng cho mục đích khác. Sản lượng muối bình quân 10 năm (1996 - 2006) của nước ta là 737 nghìn tấn, nhiều nhất như năm 1998, cũng chỉ 980 nghìn tấn. Vì vậy, năm nào chúng ta cũng phải nhập khoảng 200 nghìn tấn muối công nghiệp; năm 2000, lượng muối công nghiệp nhập khẩu lên tới 500 nghìn tấn. Năm nay, lấy lý do thời tiết không thuận lợi, mất mùa muối, Bộ NN & PTNT và Bộ Công thương đã thống nhất làm văn bản trình Chính phủ cho nhập thêm 200 nghìn tấn nữa, trong khi hạn ngạch nhập khẩu năm 2008 được Chính phủ cấp từ đầu năm là 230 nghìn tấn vẫn chưa nhập xong. Ông Trần Xuân Chính, Phó Tổng giám đốc Tông công ty Muối cho rằng “Thực ra muối đã thiếu từ năm 2007, năm nay mưa nhiều, sản lượng muối giảm, ước cả năm chỉ được khoảng 600 - 700 nghìn tấn. Vì vậy, nhập muối là cần thiết”.

Vấn đề là vì sao đến bây giờ, Việt Nam vẫn phải loay hoay với bài toán an toàn muối quốc gia? Trong khi cả nước có hơn 3.000 km bờ biển, nhiều khu vực, nhất là vùng duyên hải miền Trung có tới 2/3 số ngày nắng trong năm, rất thuận lợi cho sản xuất muối. Thiếu muối vào giữa vụ muối đúng là chuyện lạ.

Chưa có qui hoạch bài bản

Thực tế đúng như vậy, nước ta không thiếu muối, mà chỉ thiếu qui hoạch. Vì không có qui hoạch bài bản nên ngành muối luôn bị động, diện tích đồng muối ngày càng thu hẹp, ngành muối phát triển trong cảnh giật gấu vá vai. Bao năm qua, nghề muối chủ yếu tận dụng tối đa các điều kiện thuận lợi do thiên nhiên mang lại. Những vùng triều ven biển, có nguồn nước mặn được diêm dân khai phá làm ruộng muối. Dẫn đến diện tích manh mún, phân tán, thiếu đồng bộ. Các chính sách đầu tư hỗ trợ diêm dân trong sản xuất, bình ổn giá cả, hệ thống phân phối sản phẩm…  chưa được quan tâm đúng mức. Năm nào muối có giá thì diêm dân sản xuất nhiều, lúc mất giá thì lại phá muối nuôi tôm.

Tháng 11/2000, Tổng công ty Muối khởi công dự án Khu công nghịêp muối Quán Thẻ tại huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, quy mô 2.500 ha, tổng vốn đầu tư gần 323 tỷ đồng, mỗi năm sản xuất 300 nghìn tấn muối đạt tiêu chuẩn quốc tế phục vụ chế biến công nghịêp; hơn 20 nghìn tấn thạch cao và 185 nghìn m3 nước ót. Lẽ ra, đầu năm 2002, mẻ muối đầu tiên đã được thu hoạch. Thế nhưng, 8 năm trôi qua, chưa ai thấy hình hài hạt muối Quán Thẻ mặn nhạt ra sao? Ngành muối cứ dò dẫm đi từng bước.

Tháng 2/2007, Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng ký Quyết định 161/QĐ- TTg phê duyệt Qui hoạch sản xuất muối đến năm 2010 và năm 2020 nêu rõ: Đến năm 2010, diện tích sản xuất muối cả nước 14.500 ha, trong đó có 6.000 ha muối công nghiệp, sản lượng muối 1,5 triệu tấn, muối công nghiệp 800.000 tấn; đến năm 2020, sản lượng muối đạt 2 triệu tấn, trong đó có 1,35 triệu tấn muối công nghịêp. Qui hoạch là vậy, nhưng đầu năm nay, tỉnh Ninh Thuận lại đề nghị thay đổi qui hoạch sử dụng đất, thu hồi 400 ha đồng muối Cà Ná vang bóng một thời để giao Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam xây dựng nhà máy đóng tàu, luyện cán thép, với lý do ngành muối chẳng đóng góp gì cho ngân sách tỉnh. Chủ trương này đang vấp phải nhiều ý kiến trái ngược nhau và đang chờ các bộ, ngành liên quan thẩm định, trình Thủ tướng. Hậu quả, công nghiệp đâu chẳng thấy, chỉ thấy đồng muối Cà Ná trên 400 ha bây giờ sản xuất cầm chừng, diêm dân thiếu việc làm, lại nơm nớp lo bị giải tỏa.

Vì vậy, nếu không có qui hoạch bài bản cho ngành muối, chúng ta luôn bị động.

Phải đầu tư cho diêm dân

Nguyên nhân thứ 2 hạn chế phát triển là nghề muối hầu như chưa được đầu tư đồng bộ từ hạ tầng đồng ruộng đến nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật giúp diêm dân nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. Trên những đồng muối từ Bắc vào Nam như Văn Lý (Nam Định), Hộ Độ (Hà Tĩnh), Sa Huỳnh (Quảng Ngãi), Ninh Hoà (Khánh Hoà)… hàng trăm năm nay diêm dân vẫn làm theo lối thủ công với những công cụ hết sức thô sơ: vãi cát đầm nền - phơi nước - rồi dùng trang cào muối gom thành đống. Gần một tháng trời nắng non, chỉ một trận mưa, coi như trắng tay. Mùa thu hoạch, trên đồng muối vẫn những tấm áo bạc thếch vì nắng và gió biển, vẫn những người đàn bà oằn vai gánh từng gánh muối nặng trĩu gom thành đống trên bờ, chờ thương lái đến mua, hoặc phải ngày hai buổi cơm đèn, thuê xe chở muối lên tận miền ngược đổi lấy cái ăn, cái mặc cho chồng cho con. 

Vài năm gần đây, một số doanh nghịêp đầu tư sản xuất muối chất lượng cao theo công nghệ phủ bạt che mưa, năng suất bình quân gần 200 tấn/ ha. Tuy nhiên, làm muối phủ bạt đòi hỏi nguồn vốn lớn, từ 500 đến 600 triệu đồng một ha. Ngay như Xí nghịêp muối Tri Hải, tỉnh Ninh Thuận có 390 ha muối nhưng cũng chỉ 15 ha được sản xuất theo công nghệ này mà thôi. Vì vậy, muốn tăng tỉ trọng muối chất lượng cao, không thể trông chờ vào doanh nghiệp mà phải đầu tư cho diêm dân. Ông Lê Xuân, Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thuỷ sản và Nghề muối cho rằng: “Một diêm dân có từ 3 đến 6 sào muối thì không thể giàu có được. Sắp tới, chúng tôi kêu gọi các doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư, Nhà nước hỗ trợ kỹ thuật giúp diêm dân làm muối chất lượng cao để tăng thêm thu nhập, cải thiện đời sống”. Quan điểm này đang được nhiều diêm dân đồng tình vì họ cho rằng diêm dân hoàn toàn có thể làm được muối chất lượng cao.          

Ninh Thuận và các tỉnh duyên hải Trung bộ còn nhiều diện tích đất hoang hóa ven biển, nếu được quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, kỹ thuật sản xuất đúng mức cho diêm dân thì khu vực này có thể mở rộng đồng muối lên khoảng 6.000 ha, năng suất có thể đạt từ 100 đến 150 tấn/ha, sản lượng từ 600 đến 900 nghìn tấn muối. Diện tích đồng muối cũng sẽ phát triển thêm ở Khánh Hoà, Thanh Hoá, Nam Định, Bến Tre và Bạc Liêu để đạt được mục tiêu 14 - 15 nghìn ha, sản lượng từ 2 triệu tấn muối trở lên, từng bước tiến tới xuất khẩu muối và sản phẩm sau muối. 

Lâu nay, nghề muối phát triển một cách èo uột là vì chưa có một cơ chế đầu tư hỗ trợ diêm dân từ xây dựng hạ tầng kỹ thuật đến công nghệ sản xuất. Vì vậy, muốn cho nghề muối phát triển bền vững, vấn đề then chốt là “Chúng ta không thiếu muối, mà thiếu…một qui hoạch.”

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.