Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 15/11/2010 18:51 (GMT+7)

Một số vấn đề về dân số, đất đai và tài nguyên thiên nhiên trong phát triển kinh tế - xã hội

Sự tác động của điều kiện tự nhiên, điều kiện dân số tới sự phát triển kinh tế xã hội đều phải thực hiện thông qua yếu tố phương thức sản xuất vì đây là yếu tố đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, với tư cách là một nhân tố cơ bản của phát triển xã hội, điều kiện dân số cũng là một nhân tố giữ vào trò quan trọng, thường xuyên ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của xã hội nói chung, và đặc biệt nó gây áp lực đối với đất đai ngày một mạnh mẽ.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, dân số được hiểu là "toàn bộ những người cư trú trên một số vùng lãnh thổ nhất định, được tính theo số lượng thống kê hàng năm và các đợt tổng điều tra", và thống kê dân số phải nghiên cứu toàn bộ quá trình tái sản xuất dân số. Quan điểm hiện nay trên thế giới cho rằng dân số học là một khoa học nghiên cứu về dân số, nó nghiên cứu quy mô, cơ cấu, sự vận động. Những đặc điểm chung của dân số được xem xét chủ yếu trên quan điểm quy mô, cơ cấu và sự phát triển của dân số và như vậy vấn đề dân số bao gồm nhiều mặt như số lượng, chất lượng dân cư, sự gia tăng dân số, sự phân bố dân cư, mật độ dân số, cơ cấu dân cư. . .

Vấn đề thứ nhất, dân số được coi là điều kiện tác động trực tiếp đến sự vận động và phát triển của xã hội nói chung, trong đó đất đai đóng vai trò là điều kiện vật chất không thể thiếu. Theo quan điểm tư duy biện chứng, dân số là một điều kiện tất yếu đối với sự tồn tại và sự phát triển xã hội, đồng thời sản xuất ra con người là một trong những nội dung không thể thiếu trong toàn bộ hoạt động sống của con người. Chủ nghĩa Mácxít cho rằng với quan điềm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, quy cho đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng bản thân sự sản xuất có hai loại. Một mặt, là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt, ra thức ăn, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết. . . mặt khác, là sự sản xuất ra bản thân con người, đó là sự truyền nòi giống. Những trật tự xã hội, trong đó những con người của thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống là do hai loại sản xuất đó quyết định: một mặt do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình.

Theo quan niệm của Liên hiệp quốc về dân số học thì sự tác động của dân số tới đời sống xã hội được thể hiện cả hai mặt số lượng và chất lượng. Sự tác động này có tính chất lịch sử cụ thể của nó. Về số lượng, đó là sức mạnh được tính theo lao động cơ bắp, sức mạnh thể lực của con người. Trong quá trình hoạt động của mình, nhờ tài năng tổ chức, quản lý và sự liên kết mà con người đã tạo ra một sức mạnh vật chất không gì thay thế được. Sức mạnh đó phụ thuộc vào điều kiện lịch sử nhất định. Khi trình độ phát triển của xã hội còn thấp thì sức mạnh của số lượng được phát huy mạnh mẽ. Về mặt chất lượng, đó là sự thể hiện về mặt trí lực của con người. Nhờ sức mạnh này mà con người có thể sáng tạo ra những sản phẩm mới không có trong tự nhiên, đem lại cho con người sức mạnh mới, làm cho con người sức mạnh mới, làm cho con người khác xa con vật. . .

Sự tác động của vấn đề dân số tới sự phát triển của xã hội được diễn ra trong sự liên quan, ràng buộc chặt chẽ giữa mặt số lượng và chất lượng. Nếu tách rời hai mặt đó ra chúng ta sẽ không thể giải thích nổi tại sao trong các giai đoạn trước đây, con người có thể tạo được nhiều công trình văn hoá có ý nghĩ vĩ đại đến tận ngày nay.

Vấn đề thứ hai: Dân số tác động đến điều kiện tự nhiên và gây áp lực tới đất đai, môi trường. Bản thân con người là sản phẩm của tự nhiên, hơn thế còn được coi như một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sinh ra được. Xét theo tiến trình phát triển, xã hội loài người cũng là sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên, là một hình thức tồn tại đặc biệt của giới tự nhiên. Từ xa xưa, quan niệm về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đã bị phân thành hai khuynh hướng. Một khuynh hướng cho rằng con người không đối lập với tự nhiên mà luôn được coi là một thành tố, một bộ phận cấu thành giới tự nhiên, do đó, con người cần phải sống hoà mình với tự nhiên (theo quan điểm phương Đông). Còn khuynh khác trái ngược lại đã coi con người là thước đo của mọi vật, con người phải chinh phục, thống trị giới tự nhiên (theo quan điểm phương Tây). Ở cả phương Đông và phương Tây, quan hệ con người với môi trường tự nhiên đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn khác nhau.

Con người muốn tồn tại, thì con người phải được thoả mãn các nhu cầu về vật chất. Các sản phẩm vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của con người đều được trực tiếp hoặc gián tiếp lấy từ đất và các điều kiện tự nhiên khác. Vì vậy, khi dân số tăng, sản phẩm cơ bản cho đời sống con người đều lấy từ đất và môi trường cũng tăng lên. Khi sự gia tăng dân số vượt qua ngưỡng của sự bền vững sinh thái, phá vỡ sự thống nhất của quan hệ con người và tự nhiên sẽ dẫn đến hậu quả khó tránh khỏi là môi trường tự nhiên bị suy thoái, các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt. Do tốc độ gia tăng dân số quá nhanh trong vài thập niên gần đây, nên làm cho tài nguyên đất rừng được coi là lá phổi xanh của thế giới ngày càng thu hẹp dần, dẫn đến diện tích bị sa mạc hóa tăng lên. Theo tính toán, hàng năm có trên 11 triệu ha đất rừng nhiệt đới bị biến mất, trong khi đó diện tích đất có rừng trồng lại chỉ bằng 10% số diện tích rừng bị tàn phá. Theo đánh giá của FAO, quá trình gia tăng dân số gắn liền với giảm diện tích đất rừng. Trong các nước thuộc thế giới thứ 3, cứ tăng 1,5% dân số sẽ mất 0,5% diện tích đất rừng. Riêng ở Châu Á và châu Phi, tỷ lệ mất đất rừng còn cao hơn tỷ lệ gia tăng dân số.

Nguyên nhân suy giảm diện tích đất rừng đang ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của con người, làm mất cân bằng sinh thái tự nhiên. Con người không thể tồn tại nếu thiếu cây xanh, bởi cây xanh góp phần giảm quá trình nóng lên của trái đất, thiên tai lũ lụt… và trong quá trình quang hợp, cây xanh đã cung cấp ôxy, yếu tố không thể thiếu cho cuộc sống của con người. Do vậy, việc trái đất mất dần đi diện tích đất rừng đã góp phần nẩy sinh nhiều thảm họa khó lường cho con người, nguyên nhân dẫn đến làm giảm sự phát triển xã hội con người.

Dân số tăng nhanh gây áp lực tới đất sản xuất nông nghiệp, đó là sự thu hẹp do quá trình biến đất sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp. Mặt khác, do dân số tăng nhanh cần phải tăng thêm số lượng lương thực, người ta phải khai thác tiềm năng cuả đất một cách triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn đến hậu quả môi trường sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá và ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra. Đối với nước ta (năm 2005), tổng diện tích tự nhiên 33.069.348,12 ha. Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp 9.415.568,0 ha, với dân số 83,121 triệu người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên đầu người là 1.132,75 m2/ người, giảm so với năm 2000 là 1.203,0 m2/ người và như vậy quá trình phát triển tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp chậm hơn so với sự gia tăng dân số hàng năm.

Sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế xã hội trong tương lai sẽ làm tăng mạnh nhu cầu dùng nước và kéo theo tác động mạnh đến tài nguyên nước. Đó là sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu nước cho sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp sẽ tăng lên mạnh mẽ, đồng thời còn tác động đến môi trường tự nhiên nói chung và tài nguyên nước nói riêng. Theo đánh giá của Liên Hiệp Quốc, nguồn nước sạch toàn cầu đang cạn kiệt một cách đáng lo ngại do sự bùng nổ dân số, tình trạng ô nhiễm môi trường cùng với nhiệt độ trái đất nóng lên sẽ làm mất đi khoảng 33% nguồn nước sử dụng trong 20 năm tới.

Cùng với việc gia tăng phá rừng, đất đai, huỷ hoại nguồn nước, sự tăng nhanh của dân số còn làm ô nhiễm cả bầu không khí. Không khí bị ô nhiễm trước tiên là do hàng năm, loài người đã đào bới, rút ra lừ lòng đất hàng tỷ tấn nguyên liệu khoáng vật. Nguyên liệu này khi bị đốt cháy, nung nấu trong quá trình sử dụng đã thải vào bầu khí quyển một lượng lớn các chất độc hại, là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính. Hoạt động của con người còn gây ra những tác nhân phá hoại tầng ôzôn, dẫn đến trái đất nóng lên sẽ làm cho nước biển có thể dâng cao 0,3 đến 1 ,0m và do đó nhiều vùng đất canh tác sẽ bị nhấn chìm trong nước biển . . . .

Dân số tăng nhanh còn là một nguyên nhân làm mất đi tính đa dạng của tài nguyên thiên nhiên. Những bộ phận, yếu tố cấu thành của tự nhiên luôn tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, có sự tương tác, gắn kết chặt chẽ với nhau. Nhưng trong quá trình sinh sống, do nhu cầu và khả năng của mình, con người chỉ tập trung khai thác ở một số khu vực, một số bộ phận của tự nhiên. Sự biến động bất thường này làm ảnh hưởng đến sự thống nhất của toàn bộ giới tự nhiên và từ đó dẫn tới sự mất cân bằng sinh thái, đe doạ đến sự sinh tồn của loài người.

Như vậy, thông qua hoạt động sống của mình, con người đã phá vỡ sự thống nhất của mối quan hệ con người và tự nhiên. Sự gia tăng của dân số đã gây nên hàng loạt những vấn đề về môi trường và con người đang phải trả giá cho chính những hành động của mình. Cho nên cần có các giải pháp quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đất đai và môi trường.

Vấn đề thứ ba: Dân số có những ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để quá trình sản xuất có thể thực hiện được, phải có một nguồn lao động hợp lý, trong khi đó, các quá trình biến động dân số có tác động rất lớn đến sự phát triển của nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng. Khi xem xét mối quan hệ này cần chú ý, một mặt, sự tái sản xuất dân số là nguồn cung cấp lực lượng lao động duy nhất cho xã hội, nhưng mặt khác vấn đề bảo đảm việc làm cho lực lượng lao động lại hết sức khó khăn nếu dân số tăng vượt tầm kiểm soát của nhà nước và xã hội.

Khi dân số tăng nhanh, số lượng lao động tăng lên, quá trình sản xuất không sử dụng hết lao động, mất cân đối giữa nhu cầu và khả năng lao động, dẫn đến tình trạng khủng khoảng thừa là nguyên nhân dẫn đến thất nghiệp mà thất nghiệp chính là một nguồn gốc của nhiều tiêu cực trong xã hội.

Việc gia tăng quá mức dân số cũng ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn lao động. Dân số quá đông sẽ làm cho hệ thống dịch vụ như giáo dục, y tế, quá tải, con người sẽ không được đào tạo, không được đảm bảo cả về thể lực, trí lực để đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của quá trình sản xuất cạnh tranh cao mang tính hàng hoá, toàn cầu hoá.

Trong vấn đề dân số, cơ cấu dân số và sự phân bố dân cư cũng là những yếu tố tác động đến quá trình sản xuất ở nước ta, dân số nông thôn vẫn chiếm gần 76% tổng dân số cả nước, chiếm gần 70% lực lượng lao động của toàn xã hội phân bố không đồng đều ở các vùng miền trong cả nước. Trong điều kiện chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, đòi hỏi phương thức tổ chức hoạt động sản xuất đã có nhiều thay đổi, tổ chức sản xuất, cuộc sống ở nông thôn xuất hiện nhiều yếu tố mới, nhất là những vấn đề liên quan đến sử dụng đất. Về cơ cấu dân số, nếu tỷ lệ nguồn lao động trẻ cao hơn sẽ tạo nguồn lao động dồi dào nhưng đồng thời cũng gây nên áp lực về vấn đề việc làm. Ngược lại, khi tỷ lệ sinh giảm, tuổi thọ tăng cao, số người cao tuổi trong xã hội chiếm tỷ lệ cao sẽ dẫn đến tình trạng thiếu sức lao động.

Về sự phân bố dân cư, nếu không có sự chủ động kiểm soát bằng các chính sách kinh tế, xã hội hợp lý thì xu hướng phổ biến sẽ là tình trạng mất cân đối mật độ dân số và chất lượng dân số. Ở những khu vực đô thị lớn và nhỏ cũng như khu vực đồng bằng, nơi đây được coi có nhiều điều kiện thuận lợi hơn cho cuộc sống, dẫn đến mật độ dân số sẽ tăng nhanh do gia tăng cơ học, còn ở các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, có mật độ dân cư thưa thớt với điều kiện chăm sóc dân số khó khăn làm cho chất lượng dân số không cao đã làm cho chất lượng cuộc sống dân cư vùng này có xu hướng nới rộng khoảng cách với vùng đô thị, đồng bằng trù phú. Tình trạng này đồng thời gây ra những ảnh hưởng bất lợi cho cả khu vực đô thị, đồng bằng và các khu vực miền núi, cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội chung của quốc gia và điều kiện của chúng ta cũng không nằm ngoài vấn đề này.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.