Một bài thơ chữ Hán mới phát hiện của Nguyễn Huy Tự
Ca ngợi mà không lộ liễu, dùng điển cổ sang và đắt mà không quá cầu kỳ, thể hiện được một tình cảm cha con sâu nặng mà không phô trương, quả thật Nguyễn Huy Tự đã đạt được những điều đó qua bài thơ họa của ông. |
Thế nhưng lần tìm theo hành trang của ông ở Nguyễn Thị Gia Tàng (bản tàng thư của dòng họ Nguyễn Huy), thấy bản “ liệt truyện” của dòng họ này ghi rõ: “ Ông lại giỏi quốc âm, đương thời trước thuật rất nhiều, có Hoa tiên truyện hành thế”. Như vậy, ngoài Hoa tiên truyện lưu hành ở đời thì những “trước thuật rất nhiều” của ông, hiện nay có còn sót lại gì không? Và Hoa tiên chắc không phải là tác phẩm độc nhất của Nguyễn Huy Tự! Chúng tôi đã bước đầu giải đáp được điều băn khoăn trên khi phát hiện thấy bài thơ chữ Hán của ông sáng tác nhân dịp cha ông là Thượng thư bộ Hộ Nguyễn Huy Oánh được trí sĩ.
Thám hoa Nguyễn Huy Oánh xin hưu năm 66 tuổi (1779), nhưng hai năm sau ông mới được “ khởi phục” và “ vinh hồi” bản quán. Nhân dịp đó, ông làm một bài Đường luật.
Phiên âm:
Lạm giai đệ nhất chiếm thanh ban
Thủ chuyết khu khu tạp tải gian.
Vạn lý quy bình, bằng hậu tý,
Thất tuần giải tổ, thiết dư nhàn.
Phong tư hạnh toại quần mi lộc,
Nhã phạm di thâm cảnh phượng loan
Đính chủng thử sinh toàn thánh trạch,
Ức niên cận chúc thọ Nam San (Sơn).
Tạm dịch:
Lạm dự vào bậc quan cao quý hàng đầu,
Mà chỉ khư khư giữ sự vụng về suốt ba mươi năm.
Được quay xe vạn dặm trở về là nhờ sâu nặng hoàng ân,
Bảy mươi tuổi từ quan, trộm được chút nhàn.
Làm bạn với hươu nai, may thỏa được bản tính phong lưu,
Cuộc sống có anh tài, càng sâu khuôn phép thanh nhã
Cả đời từ cái ti cái tóc đều nhờ ơn chúa,
Xin chúc thánh thượng muôn tuổi như Nam Sơn.
Bài thơ thể hiện một tâm trạng vừa khiêm nhường vừa thanh thản của tác giả khi ông từ giã quan trường. Có đến 74 bài thơ họa nguyên vận của thân vương nhà chúa, của các quan đồng triều, các danh sĩ, các con cháu và môn sinh tác giả. Trong đó có bài họa của Nguyễn Huy Tự như sau:
Phiên âm:
Hi triều di lượng mấn thành ban,
Vĩ phụ hồng phi trác lưỡng gian.
Cửu lão lệ nhiêu thiên địa phúc,
Thất hiền thú dụ cổ kim nhàn.
Dương danh nghĩ họa minh cao hạc
Tế mỹ hành lư(?) dưỡng cách loan.
Thặng quảng tiền hưu khai hậu ấm.
Phù trưng khâu trạc xuất Kỳ San (Sơn).
Tạm dịch:
Kính cẩn gặp được triều thịnh trị (chỉ tiếc) tóc đã bạc,
Ấy là mang chí bay cao như chim Hồng đứng sững giữa càn khôn.
Lệ ưu đãi cho người đến bậc Cửu lão là nhờ phúc của trời đất,
Hứng thú dạt dào của Thất hiền, là cái nhàn xưa nay.
Lập thân ở đời để làm hiển vinh cha mẹ, chỉ nghĩ họa theo tiếng hạc bên chằm,
Nối nghiệp của tổ tông, làm ngọn hoàng lư cho chim loan dưỡng cánh.
Đã hưởng được phúc trước rộng dài lại mở ra ấm trạch cho con cháu,
Ứng với điềm lành, chim Phượng, chim ưng sinh ra ở Kỳ Sơn.
Họa thi là một hình thức tao nhã của người xưa. Người ra bài họa đã khó, người họa lại còn có phần khó hơn. Khi có đến 74 bài thơ họa của hầu hết các văn nhân có tiếng đương thời (như đã nói ở trên) Nguyễn Huy Tự không thể họa kém tay hơn họ, nhất là lại họa thơ của chính người sinh ra mình. Ca ngợi mà không lộ liễu, dùng điển cổ sang và đắt mà không quá cầu kỳ, thể hiện được một tình cảm cha con sâu nặng mà không phô trương, quả thật Nguyễn Huy Tự đã đạt được những điều đó qua bài thơ họa của ông.
Nguồn: Sự kiện và Nhân chứng, 26/09/2006








