Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 07/09/2010 21:18 (GMT+7)

Mô hình khuyến nông chăn nuôi heo sinh sản hướng nạc đảm bảo vệ sinh môi trường

Chăn nuôi trang trại, công nghiệp đang có xu hướng phát triển nhanh, tuy nhiên theo Cục Chăn thì chăn nuôi đang tồn tại ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước; chiếm khoảng 75 – 80% về đầu con, nhưng sản lượng chỉ chiếm khoảng 65 – 70% tổng sản lượng thịt heo sản xuất cả nước; quy mô chăn nuôi mang tính nhỏ lẻ, dao động từ 1 – 10 con; thức ăn đầu tư chủ yếu là tận dụng sản phẩm nông nghiệp sản xuất và khai thác tại chỗ hoặc tận dụng các sản phẩm trồng trọt và sản phẩm ngành nghề phụ; con giống chủ yếu là giống địa phương hoặc giống có tỷ lệ máu nội cao (F1: nội x ngoại); năng suất chăn nuôi thấp. Heo nái sinh sản do được nuôi từ nhiều năm, việc chọn giống chưa được chú trọng nên thoái hoá cho heo thịt có tỷ lệ nạc thấp, chất lượng thịt không cao, số con heo/ lứa mẹ thấp nên nuôi của đa số hộ nông dân vẫn còn mang hình thức tạm bợ, thiếu hệ thống xử lý chất thải, khu vực chăn nuôi bị ô nhiễm, ảnh hưởng đến cuộc sống. Chính vì vậy, việc triển khai thực hiện các mô hình khuyến nông chăn nuôi heo sinh sản hướng nạc đảm bảo vệ sinh môi trường ở các vùng đang tồn tại chăn nuôi truyền thống nhằm góp phần đẩy mạnh chăn nuôi heo theo hướng trang trại, đảm bảo vệ sinh môi trường, an toàn dịch bệnh và vô cùng cần thiết và cấp bách. Có thể nói trong những năm qua mô hình chăn nuôi heo sinh sản hướng nạc đảm bảo vệ sinh môi trường đã góp phần đưa ngành chăn nuôi heo phát triển theo hướng công nghiệp, tập trung, kiểm soát được dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm. Để nâng cao năng suất chất lượng đàn heo, nhiều tiến bộ kỹ thuật mới như truyền tinh nhân tạo, sử dụng nái ngoại như L, Y hoặc con lai 2 máu, cai sữa sớm cho heo con, nuôi heo nái đẻ và heo con trên chuồng lồng, sử dụng khí sinh học Biogas để xử lý chất thải, phát điện… đã được chuyển giao nhằm xây dựng mô hình.

Trong 15 năm qua từ 1993 – 2008, chương trình này đã thu hút trên 18.000 hộ tham gia ở 48 tỉnh thành, số lượng heo chuyển giao 63.614 con với tổng kinh phí thực hiện là 51,022 tỷ đồng.

Hiệu quả thiết thực từ mô hình

1/ Các mô hình trình diễn đã tác động đến nhận thức của người dân sau khi thực hiện

Các hộ chăn nuôi trong mô hình đã tiếp nhận thêm các kiến thức, các thông tin kỹ thuật chăn nuôi heo, đó là cách xây dựng chuồng trại hợp lý, sử dụng con giống tốt, chế độ ăn uống đầy đủ dinh dưỡng cùng biện pháp tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, vệ sinh thú y tiêu độc sát trùng chuồng trại, xử lý chất thải chăn nuôi bằng hệ thống hầm khí sinh học đảm bảo được vệ sinh môi trường, tạo được vùng an toàn dịch. Từ đó chính các hộ này đã đóng góp nâng cao chất lượng con giống địa phương theo hướng nạc, giúp nhiều hộ xung quanh mạnh dạn, yên tâm đầu tư phát triển chăn nuôi giúp cải thiện kinh tế gia đình.

2/ Mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế, kỹ thuật thiết thực

So với sản xuất đại trà, mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế nhờ giảm tuổi đẻ lứa đầu, tăng số lứa đẻ/ mái/ năm (từ 1,7 lứa lên 2,2 lứa), khối lượng heo sơ sinh được tăng lên từ 0,9 kg lên 1,3 kg/ con, tăng số heo con cai sữa (từ 7 con lên 8,5 con), giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng, tăng tỷ lệ thịt xẻ, tỷ lệ nạc cao. Tại Kiên Giang, một vài hộ ở Hà Tiên, Kiên Lương, khối lượng heo sơ sinh đạt 1,7 – 1,8 kg, số heo con/ lứa đạt 13 – 14 con. Việc sử dụng heo đực giống để cải tạo đàn heo địa phương ở những vùng sâu vùng xa chưa phổ biến kỹ thuật thụ tinh nhân tạo mang lại kết quả khả quan. Ở Kiên Giang, một nọc giống đã phối hợp cho 81 nái địa phương/ năm với tỷ lệ đậu phôi cao trên 92% số con/ lứa là 10 – 12 con, heo con sinh ra nuôi thịt có tỷ lệ nạc đạt trên 55%/

Nhiều hộ nông dân ở các tỉnh thành đã có thu nhập cao từ mô hình này. Tại Tiền Giang, doanh thu lợi nhuận trên 1 nái sau khi trừ đi chi phí mua con giống, thức ăn, thuốc thú y và khấu hao chuồng trại lãi khoảng 4.200.000 đ + nái khô. Mô hình ở Đồng Tháp đã làm lợi nhuận tăng so với hộ nuôi xung quanh 500.000 đ/lứa, chưa tính hộ sử dụng được chất đốt từ biogas giảm chi tiêu gia đình trên dưới 100.000 đ – 200.000 đ/ tháng. Lợi nhuận từ mô hình tỉnh Trà Vinh đem lại cho các hộ thực hiện mô hình cao hơn so với heo nuôi tại địa phương, heo con sau khi sinh ra từ mô hình nuôi 45 ngày tuổi đạt khối lượng 17 – 18 kg, cao hơn 4 – 5 kg so với sản xuất đại trà, lợi nhuận chênh lệch từ 300 – 400.000 đ/con, đặc biệt từ đàn heo con sinh ra, cộng đồng người chăn nuôi sẽ chủ động được nguồn con giống tốt có tính năng sản xuất vượt trội.

3/ Hiệu quả xã hội – môi trường

Mô hình đã góp phần cung cấp sản phẩm thịt cho người tiêu dùng, nâng cao thu nhập cho nông dân, cải tạo đàn lợn địa phương theo hướng nạc hoá, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường và hình thành mô hình sản xuất theo hướng công nghiệp hoá, bền vững, đảm bảo vệ sinh môi trường. Mô hình đã trang bị thêm cho các hộ trong và ngoài chương trình các kiến thức cơ bản và những thông tin tiến bộ KHKT mới trong chăn nuôi heo. Cùng với địa phương nơi thực hiện mô hình góp phần giải quyết một phần công lao động nhàn rỗi ở nông thôn, mô hình trình diễn chăn nuôi heo nái sinh sản là nơi để tổ chức tham quan học hỏi rút kinh nghiệm cho các nơi khác, tác động các hộ chăn nuôi ngoài chương trình ở những vùng lân cận cùng thực hiện nhằm nhân ra diện rộng. Tại Kiên Giang, trước đây việc xử lý chất thải trong nông hộ hầu như còn bỏ ngỏ thì nay sau khi tham gia mô hình người nông dân đã biết xử lý chúng ra sao, trong năm 2008 đã có 22/43 hộ (gần 50%) thực hiện mô hình có bể, túi xử lý biogas làm chất đốt trong gia đình, số hộ còn lại xử lý phân heo làm thức ăn cho cá hoặc ủ hoai để nuôi trùn quế, phân bón.

Những năm gần đây, khí Biogas còn được sử dụng trong việc phát điện phục vụ trở lại chăn nuôi và đời sống người nông dân một cách thiết thực và hiệu quả. Anh Võ Thanh Phong ở ấp An Hoà, xã An Phú, huyện Củ Chi, Tp Hồ Chí Minh, người sở hữu bằng độc quyền giải pháp hữu ích về phương pháp sản xuất điện từ khí sinh vật học cho biết 3 lợi ích cơ bản mà máy phát điện từ Biogas mang lại. Thứ nhất là hiệu quả kinh tế, theo anh thì với một trại heo 400 con, đầu tư 1 máy phát điện 20 triệu đồng và một hầm ga khoảng 15 triệu đồng để sản xuất 100 m3 khí, sau 1 năm hoạt động sẽ thu lại vốn đầu tư. Thứ hai là người chăn nuôi hoàn toàn chủ động nguồn điện và thứ ba là trang trại chăn nuôi có thể mở ở bất cứ nơi nào. Tại xã Bình Đức, huyện Bến Lức, Long An, đã có 2 trong số 6 gia đình thực hiện mô hình chăn nuôi heo sinh sản hướng nạc đảm bảo vệ sinh môi trường năm 2008 có máy phát điện từ Biogas. Anh Xuân Quốc Dũng, ngụ tại Ấp 1 phấn khởi cho biết trang trại của anh có tổng đàn heo gần 100 con, anh đã mua máy phát điện cách đây 2 năm với công suất 5 KW, giá mua là 11 triệu đồng. Đây là máy phát điện chạy xăng, khi mua về anh phải đưa tới cơ sở cơ khí để chế lại bộ chế hoà khí, chi phí khoảng 500.000đ. Với lượng biogas của trang trại có thể cho máy phát điện chạy liên tục 8 giờ, trung bình 1 giờ máy phát điện này cần khoảng 1 m3 khí biogas. Từ khi có máy phát điện, việc chăn nuôi heo trong gia đình đỡ vất vả đi rất nhiều. Máy phát điện giúp anh trong việc chạy máy bơm nước để tắm heo mà trước kia anh phải múc nước tắm cho chúng bằng tay. Điện từ máy phát điện giúp anh phun thuốc sát trùng chuồng trại định kỳ. Đặc biệt máy phát điện còn giúp anh thắp sáng, chạy quạt vào buổi tối dùng cho sinh hoạt gia đình, cho con cái học hành. Anh biết ở nơi anh ở có điện lưới nhưng rất yếu trong giờ cao điểm hoặc lúc thời tiết nóng bức. Theo anh Dũng, để sử dụng máy phát điện tốt thì cần hạn chế tối đa lượng nước còn trong khí Biogas trực tiếp vào máy phát điện bằng cách cần có nhiều túi khí trên cao để thu khí biogas từ hầm trước khi đưa vào máy phát điện. Anh Lâm Thanh Đức, Ấp Bình Tân, xã Xuân Phú, Xuân Lộc, Đồng Nai thì có cách làm khác rất sang tạo. Anh sử dụng khí Biogas từ trại heo để chạy máy phát điện và sử dụng điển để chạy hệ thống làm mát cho 5 dãy chuồng gà đẻ qui mô 30.000 gà đẻ. Máy phát điện của anh có công suất lên tới 50 kw do chính anh tự mày mò cải tạo từ một máy nổ cũ. Giá trị của chiếc máy này khoảng 55 triệu đồng. Việc có được nguồn điện từ Biogas giúp anh hoàn toàn chủ động trong việc chăn nuôi, đặc biệt là những lúc điện lưới yếu không đủ khả năng làm mát cho trại gà đẻ của anh. Anh Huỳnh Công Bằng, ngụ tại Ấp Trung Lân, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Tp Hồ Chí Minh với quy mô đàn heo 350 – 400 con thì lại dùng máy phát điện từ Biogas để làm mát ngay cho chuồng nuôi heo của mình. Nuôi heo trong chuồng kín với nhiệt độ mát mẻ, đàn heo của anh sinh trưởng và sinh sản rất tốt, giảm chi phí thức ăn và rút ngắn thời gian nuôi trong chăn nuôi heo thịt. Anh còn cho biết khi sử dụng khí Biogas chạy máy phát điện có thể khử tới 90% mùi hôi trong chăn nuôi.

Bài học kinh nghiệm rút ra từ mô hình

1/ Vấn đề chọn hộ thực hiện mô hình: cần chọn hộ tham gia có nhiệt tình, có kiến thức, ham học hỏi, đủ nhu cầu về vốn, có khả năng và mong muốn trao đổi kinh nghiệm với người xung quanh để tham gia xây dựng mô hình; để gắn kết với chương trình khí sinh học nhằm bảo đảm vệ sinh môi trường. Thực tế cho thấy việc kết hợp với chương trình khí sinh học (Biogas) đã mang lại hiệu quả thiết thực về môi trường và giảm được chi phí đầu vào chăn nuôi cho nông hộ.

2/ Giống heo: nhu cầu về giống heo cao sản và ứng dụng kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến là một thực tế khách quan có xuất phát từ nhu cầu của đông đảo bà con nông dân. Cần chọn mua con giống từ các trại giống an toàn sinh học và điều kiện chăn nuôi phải được cách ly với mầm bệnh, cần phải xây dựng chuồng lồng, tiện cho việc chăm sóc quản lý và xử lý chất thải trong chăn nuôi bằng hệ thống hầm khí sinh học.

3/ Quy mô mô hình: có thể nói chăn nuôi có quy mô vừa và lớn, được đầu tư về vốn và kỹ thuật một cách tương xứng khi tham gia mô hình sẽ đạt được những hiệu quả rất rõ nét so với các biện pháp đồng bộ, áp dụng công nghệ cao, tăng hiệu quả cho mô hình và đây cũng là điển hình để nhân rộng.

4/ Công tác kiểm tra, giám sát, chỉ đạo và hướng dẫn kỹ thuật được thực hiện thường xuyên là một biện pháp rất thiết thực mang lại những kết quả nêu trên.

5/ Có thể nói, việc sử dụng Biogas chạy máy phát điện là một giải pháp tích cực trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi, đẩy mạnh phát triển trong chăn nuôi mà còn góp phần tích cực trong việc cải thiện đời sống của bà con nông dân, đặc biệt ở vùng xa. Tuy nhiên, để nhân rộng mô hình này, thiết nghĩ các nhà khoa học cần bắt tay ngay vào việc nghiên cứu chế tạo ra máy phát điện từ Biogas chuyên dùng cho bà con nông dân với giá thành hợp lý cùng với việc hướng dẫn qui trình sử dụng, bảo dưỡng một cách hiệu quả.

6/ Liên kết nuôi heo qua các tổ liên kết hoặc HTX góp phần thúc đẩy phát triển mô hình. Lần đầu tiên những “đại gia” nuôi heo ở huyện Củ Chi (Tp HCM) đã cùng nhau liên kết nuôi heo bằng quy trình an toàn để có sản phẩm heo sạch cung cấp cho thị trường. HTX hiện có 9 thành viên, có tổng đàn heo nái gần 3.000 con, heo thịt 12.000 con, tập trung ở các xã An Phú, Phú Mỹ Hưng, Thái Mỹ, Nhuận Đức, Tân Thạnh Đông, Phước Vĩnh An (huyện Củ Chi) và xã Tân Thới Nhí (huyện Hóc Môn). Đây được coi là bước đột phá của HTX chăn nuôi heo an toàn Tiên Phong trong thời điểm hiện nay.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.
Lâm Đồng: Gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026
Chiều ngày 15/4, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026. Dự và chủ trì Hội nghị có các đồng chí: Y Thanh Hà Niê Kđăm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành và 150 đại biểu trí thức tiêu biểu của tỉnh.