Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 28/05/2008 23:59 (GMT+7)

Mạn bàn về Minh triết Việt

I. Ý tưởng tìm học Minh Triết Việt

Cách đây đã hơn 20 năm trong mấy bài viết: Ngàn năm Viên Chiếu một ánh Thiền(đã đăng ở Văn Nghệ và ở Tạp chí Nghiên cứu Phật học), Tưởng hoà bình của Nguyễn Trãi(đăng trên Tập san Văn hoá Phật giáo – Sài Gòn), tôi ngày nay càng chú ý tới những tư tưởng rất cô đọng của tiền nhân và nghiệm thấy đó là những chân lý có tính phổ quát. Như trong Tham đồ hiển quyếtcó một câu Thế nhân giai nhậm ốc, Lậu nhân hà sở tại(Người đời ai cũng đi thuê nhà để ở - giả sử nhà dột có thể che chắn ở tạm. Còn người dột (lậu nhân) thì Minhbiết trú vào đâu). Hoặc như câu nói về nhạc của Nguyễn Trãi: “ Hoà bình là gốc của nhạc. Thanh âm là văn của nhạc… Xin bệ hạ thương yêu nuôi dưỡng muôn dân làm sao cho trong dân cùng xóm vắng không còn lời hờn giận oán sầu. Thế mới không lỗi mất cái gốc rễ của nhã nhạc”. Đó là lý tưởng về nhạc mà cũng là lý tưởng về một cuộc sống hài hoà với mình, với xã hội và với thiên nhiên!

Gần đây khi nghiên cứu những bài học của Đông kinh nghĩa thục (ĐKNT) mà tôi mạo muội nâng lên thành những giá trị Minh triết, cái ý nghĩa cho rằng xã hội chưa áp đặt lên não trạng của những nhà cầm quyền đương đại cái hồn mạch của Chân - Thiện - Mỹ cổ truyền Việt Nam - những Minh triết của cha ông không được tiếp nhận nghiêm túc, chân thành khiến cho cái phương châm của ĐKNT:

Á Âu chung lại một lò

Đúc nên nhân cáchmới chongười

dễ biến thành dị hợm!

Cái “trọng lực” Việt Nam không rơi đúng “chân đế” thành ra “chân xiêu chân nam” (chân chiêu chân đăm).

Tôi nghĩ rằng trong khi thiên hạ nhấn vào cái bản sắc văn hoá Việt là ẩm thực, là áo dài, là vô vàn thứ khác nữa, tại sao ta không cùng nhau đi tìm cái “bản lai diện mục” của mình trong cái cốt tuỷ chiều sâu hơn như là cái chuỗi gen Việt, bên cạnh sự phác hoạ diện mạo, cái profil bề ngoài.

Có ba điều khiến tôi băn khoăn, trăn trở khi nghĩ tới cái nền chính trị của Dân tộc ta.

Một là cái tư tưởng “Vô vi cư điện các”. Đây không chỉ là tư tưởng lớn mà còn là một câu hỏi lớn cả ngàn năm sau. Tư tưởng ấy xuất hiện khi quốc gia Đại Cồ Việt ra đời với một mong ước, một ý chí Đại Hành. Con cháu ngàn năm có những gì vi phạm cái Vô vi? Và cái Vô vi hiện đại phải là gì? Phải chăng chúng ta đang bất chấp cái “Vô vi” của con người, của Dân, của xã hội (ở đây “Vô vi” phải hiểu làm theo quy luật khách quan của thiên nhiên và xã hội).

Hai là trong cái hình thức dân chủ của ta đã thật sự thấm đượm cái tinh thần Thiên học Thân Dâncủa đời Trần chưa?

- Trong núi không có Phật. Hãy làm Phật giữa lòng xã hội - Từ đó có Cư trần lạc đạo.

- Bậc nhân chủ (người cầm quyền) phải lấy lòng của thiên hạ làm lòng của mình, lấy ý của thiên hạ làm ý của mình. Cách nào để không đem cái ý riêng của một nhóm áp đặt vào cộng đồng, vào xã hội.

- Thứ ba là tư duy của Ngô Thì Sĩ đã được Phan Huy Chú tâm đắc dẫn lại (trong Lịch triều hiến chương loại chí): “Đem đạo thánh hiền để quở trách thói đời không bằng đem đạo đời thường để cảm hoá lòng người”. Nhớ lần ấy khi đọc bài viết của tôi trên Tuổi trẻ,anh Ivo Vasiliev, nhân sang dự 100 sinh nhật Hồ Chí Minh, hỏi tôi: “Đạo thánh hiền thì tôi hiểu, còn đạo đời thường nghĩa là gì?”, Tôi bảo: “Đó là người nông dân cần có ruộng cày, phải trả lại ruộng cho nông dân. Người thợ thủ công cần xưởng thợ, phải trả xưởng thợ cho thợ thủ công. Nhà buôn cần cửa hàng, người trí thức cần tự do tư tưởng… Phải xử lý những vấn đề ấy theo đạo Đời thường”. Ivo gật gật bảo “Tôi hiểu, tôi hiểu”. Câu hỏi khôn nguôi của tôi là: Tại sao trong xã hội ta hiện nay người ta thích làm trái khoáy?

Phải chăng có một Đạo (quy luật) của các dân tộc Châu Á khi đi lên hiện đại là phải tổng hợp và tích hợp, cho đặng cái Văn hoá Á – Âu trong cái lò rèn đúc ấy mà đúc lên cái hiện đại của mình.

Thế kỷ 20, Việt Nam còn lo chiến tranh cứu nước và giữ nước nên chưa kịp làm cuộc rèn đúc nền văn hoá hiện đại của mình. Có phải đấy là cái gánh mà chúng ta, lũ “thất phu” phải hữu trách không?

Tự nhiên, tôi nhớ tới một cái chức, một cái phận mà Tao đàn thời Lê Thánh Tông đặt ra là chức Sái phu. Thất phu gọi Nôm là “bố cu mẹ đĩ” (thất - sất – phu, thất phu) nghe hơi chướng. Sái phu là tên phu phen quét dọn, hầu hạ, điếu đóm. Vì thế tôi tự nguyện làm kẻ điếu đóm liên lạc và giúp các bậc thức giả của chúng ta trong một công việc chỉ có thể là công quả của một tập thể mới nên như công việc Nghiên cứu và Truyền bá Minh triết Việt.

Còn có vô vàn lý do khác nữa đều đúng đắn, chí lý, chí tình để tìm tới công chuyện Nguyên cứu Minh triết Việt, trong đó tôi nghiệm thấy rằng triết lý hoặc triết học của Việt Nam không dày như của thiên hạ. Nhưng một dân tộc lập quốc cả ngàn năm đang đi vào hiện đại, chắc chắn nền Minh triết là sâu thẳm. Bởi không có tuỷ làm sao có hệ thần kinh cao cấp, để duy trì con người là con người. Việt Nam là một quốc gia – dân tộc Á Đông – Đông phương. Đông phương và Việt Nam không triển khai tư tưởng theo hướng từ “sophia” đến Duy lý - triết lý mà trước sau, phổ biến (cả Trung Hoa, Ấn Độ, cả Việt Nam…) đều khẳng định hướng Minh triết. Có phải vì thế mà nhà Đạo học Cao Xuân Huy đã sáng tạo ra thuật ngữ Chủ toàn và chủ biệtđể nói cái đặc biệt ấy.

Thật sự là một câu hỏi lớn xuyên thiên niên kỷ: “ Con người dột (mình) biết trú vào đâu?) Huy Cận từng nói: “Những câu hỏi lớn không lời đáp”. Không phải. Chỉ vì là những câu hỏi lớn về thân phận con người nếu chỉ dừng lại ở bình diện nhân sinh, nhân vi, rõ ràng là còn nhiều cái bí. Vào cuối thế kỷ XIX có một sĩ phu của ta là cụ Hồ Phi Huyền thử đưa ra một giải pháp – Nhân đạo quyền hành.

Nhưng công án giải đáp mà Thiền sư Viên Chiếu đưa ra là:

Mặt trăng kia với mặt trời,

Vần xoay, sáng tối, vơi đầy tính sao.

Ban đầu tôi nghĩ Viên Chiếu trả lời theo lối Thiền truyền thống. Khuyết tật của con người, tự nhiên thôi, mặt trăng mặt trời cũng có lúc vơi đầy, sáng tối nữa là. Nhưng càng nghiệm tôi càng thấy thú vị. Vì chỉ giải quyết trên bình diện nhân sinh không đủ. Phải đặt nó trong cảm quan vũ trụ luận. Đây là hướng mà nhiều học giả đương đại quan tâm kiếm tìm khi nói về con người.

Ở đây tôi cũng bắt chước các trí thức lớn của ta, chỉ đưa vài ý niệm như giả thiết để làm việc.

II. Minh triết - từ thuật ngữ đến khái niệm

1. Từ Minh triết xuất hiện trong tư duy Việt Nam , trong hệ thống ngữ vựng Việt được cấu tạo theo đúng quy luật của cấu tạo ngôn ngữ Việt. Nó gồm Minh nghĩa là sự sáng tỏ (như mặt trăng mặt trời), rõ ràng, đúng đắn, hiển nhiên. Ông bà ta đã kết hợp nó với những từ khác để phô diễn cái trạng thái sáng tỏ, đúng đắn của nhiều tố chất, phẩm chất khác của tư duy, của hành động. Minh đức, Minh chủ (minh chúa), Minh đạo, Minh chính, Minh trí, Minh biện, Minh tâm…

Cái triết sáng tỏ, rõ ràng, giản dị dễ nhận ra (kiểu như những định đề) lại phổ quát được gọi là Minh triết.

2. Nếu có sự tương đồng với ngôn ngữ thế giới thì Minh triết tương đồng hơn cả là với từ “sophia” (Hy – la), với những từ khác như Sagesse của Pháp, Wisdom của tiếng Anh, sự tương đồng không bằng được như với Sophia. Các học giả Âu Mỹ khi nói về những nền triết học Đông phương họ cũng khẳng định đó là Minh triết. Như Michael Jordan (Mỹ) trong tác phẩm Minh triết Đông phương, giới thiệu các nền Triết học và Thánh lễ của phương Đông (Nxb, 2004). F. Julien trong Minh triết phương Đông và Triết học phương Tây(Nxb, Đà Nẵng, 2004). Như thế họ khẳng định một điều: Cái triết học của phương Đông được gọi là Minh Triết.

F. Julien còn đi tới sự phân loại đặc trưng giữa Triết học (phương Tây) và Minh triết (phương Đông).

Riêng tôi từ quan sát những tư tưởng thành văn (trong ca dao tục ngữ - trong sách vở tiền nhân) có nhiều giá trị phổ quát nhưng phân tán ở nhiều “nhà”. Tôi cho rằng tư tưởng triết lý Việt Nam nên gọi Nó là Minh triết thì hợp lý hơn. Vả lại tránh bị rơi vào cái “khuôn” đã cứng nhắc về quan niệm thế nào là triết học. (Cũng vì cái khuôn này nên nhiều người cho rằng Việt Nam không có Triết học).

Tôi quan niệm Minh triết Việt có những tố chất như sau:

- Mềm mại – Nhu động (như nước). Vì thế không cứng nhắc.

- Mở - Khai phóng (mở ra cho nhiều lĩnh vực nhiều thời. Vì thế dễ hấp thụ, có sự bao dung rộng lớn).

- Ý nghĩa khái quát. Nó Minh như Định đề. Khỏi chứng minh.

Tôi đã áp dụng một số chuẩn như thế để suy nghĩ về những tư tưởng của thời xưa, của thời cận và hiện đại, tìm được ở đó cái lõi Minh triết. Ví dụ tư tưởng Đông kinh nghĩa thục 100 năm rồi càng thấy hay và đúng. Từ những định đề ấy bổn phận của ta là tìm những bài toán (cụ thể ứng dụng nó cả khi đi tìm bài toán, cả khi giải bài toán) của xã hội nhân sinh.

Vì thế Minh triết Việt được coi như chất tuỷ của Văn hoá, Văn hiến.Nó là cái gen chìm để kiếm tìm đúng cái “bản lai diện mục” của Việt.

Việt hôm nay là một quốc gia đa dân tộc (chủng). Nó là 54. Cho nên Minh triết Việt không duy chỉ có nội hàm Kinh mà phải có cả Chăm, Khmer, Mường, Hmông, Thái, Tày….

III. Thử bàn nội hàm Minh triết Việt

- Minh triết Việt là tên gọi tích hợp hệ thống tư tưởng, triết lý Việt.

- Vũ trụ luận - mọi dân tộc (chủng tộc) đều có vũ trụ luận của mình.

Nhưng Minh triết Việt không nhấn mạnh vũ trụ luận. Nó chỉ nêu cảm quan về những đặc trưng, tố chất của thiên nhiên đề điều tiết cái lõi nhân sinh, gợi ý cho quy chiếu lối ứng xử, để định hướng cho thế sinh (cuộc sống nhân thế mọi mặt. Chữ này Trần Văn Đoàn dùng rất đắt).

Ví dụ thú vị nhất là quan niệm nước. Từ một yếu tố quan trọng của sinh quyển, gắn liền với mạng sống của cộng đồng, có sông ngòi mới có cá mú, có ruộng nước… Nó trở thành cái thiêng liêng là địa bàn sinh tụ thành nước nhà, thành nong sông. Kể cả Trung Hoa mà phạm trù Thuỷ(nước là sâu thẳm) họ cũng không nâng lên được sự khái quát thành địa bàn sinh tụ của quốc gia dân tộc.

Còn trong ứng xử lối sống thì rất phong phú:

Uống nước nhớ nguồn;

Nước chảy chỗ trũng;

Ăn ở như bát nước đầy;

Còn nước còn tát.

- Minh triết về nhân sinh - vừa tổng hợp vừa tích hợp nhiều hệ thống con của xã hội. Tôi chú ý đến hai hệ thống Minh triết quan trọng:

+ Một là đạo đức ứng xử xã hội. Những Đạo Hoà, Đạo Trung, Đức Tín, Đức Hiếu, Đức Từ ái, Nhân Nghĩa…

+ Hai là Đạo trị nước. Rất nhiều những Minh triết trị nước qua các triều đại, các giai đoạn lịch sử. Người ta gọi đó là Trị đạo.

Gọi là Đạo trị nước rất hay. Vì đó không phải là phương thuật nhất thời. Nghiệm ra thì hồn mạch trị đạo của Minh triết Việt là xuyên suốt, là phổ quát luôn luôn kim nhật kim thì.

Tôi thường đặt câu hỏi: Tại sao khi bắt đầu thời kỳ độc lập, quy tụ các nhóm (sứ quân) thành quốc gia nước được đặt tên là Đại cồ. Vua được tôn hiệu Đại Hành, Chủ thuyết trị nước là “vô vi cư điện các”. Cái nước Việt lớn (Cồ) phải hành xử lớn (Đại Hành). Qua cả ngàn năm cái Minh triết ấy vẫn còn giá trị. Ý nguyện và năng lực Cồ ngày nay rất bức bách để đau tranh tồn tại và phát triển trong toàn cầu hoá. Có lúc lũ con cháu hiện đại đã không ứng xử Đại hành mà nhỏ nhen, đã không vô vi cho thuận lòng người, thuận quy luật, thuận thời thế nên đã dẫn đến khủng hoảng, ly tán,bất an…

Đời Lý mở đầu văn hiến Đại Việt, định đô mới, mở rộng tầm quản trị đất nước, xây dựng một quốc gia bề thế, Minh triết hàng đầu là chính trị từ ái, chăm lo cho con người, nên Viên Chiếu nêu một vấn đề cực kỳ lớn lao, xuyên suốt:

Lậu nhân hà sở tại?

Con người dột - biết trú vào đâu?

Đó là gợi ý, là giả thiết để làm việc, để nghiên cứu.

IV. Góp vào việc nghiên cứu Minh triết Việt

Thế kỷ XX đáng ra chúng ta có thể thực hiện trạng thái văn hoá phục hưng để tiến vào hiện đại. Nhưng bất hạnh là bị nô lệ, rồi chiến tranh tàn khốc, vừa là chống xâm lăng vừa là nội chiến. Còn bất hạnh nữa là chịu trận quá lâu tư tưởng giáo điều, biệt phái thực dụng hủ lậu.

Có ba quá trình đồng thời:

- Tổng kết (thống kê, hệ thống hoá, phân tích…) các giá trị của ông cha, của văn hiến cổ truyền.

- Thâu thái văn hoá, văn minh nhân loại.

- Tích hợp vào dân tộc để có tố chất và năng lực hiện đại.

Thiên hạ, nhiều dân tộc đã thực hiện được ba quá trình ấy trong thế kỷ XX. Ta đang phải nỗ lực làm trong vài chục năm đầu của thế kỷ XXI.

Mà khái niệm thời kỳ Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước là gì? Nếu như chỉ nhăm nhăm vào công nghệ, kỹ thuật và buôn bán thì còn thiếu một vế quan trọng là văn hoá, là nhân văn. Cái quan niệm kinh tế là “kinh bang tế thế” (xây dựng quốc gia, đất nước, chăm lo cho cuộc đời của con người) như Minh triết Việt liệu có thấm vào đầu óc, vào năng lực giới cầm quyền, giới kinh doanh, giới trí thức không?

Không có dân tộc nào đi vào được hiện đại bằng cái “ phi ngã”, bằng cái trống không về Văn hoá - Lịch sử. Tại sao một số quốc gia trong nhóm “con rồng”, “con hổ” đã thành công. Bài học của họ là tích hợp được vốn xã hội của con người, của cộng đồng, của dân tộc.

Trong Văn minh tân học sáchcó một khẩu hiệu: “ Chỉ phải đi nhanh lên mà thôi”. Chính vì sự “sống gấp” của các bậc Trí giả đương đại.

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.