Lẽ phải và lòng người (II)
Sử học và sử gia
Phải thừa nhận rằng một thời giới “sử gia-công chức” thực hiện xuất sắc vai trò minh hoạ và là vũ khí đấu tranh tư tưởng trong một thời kỳ đòi hỏi bởi sự khắc nghiệt của chiến tranh-cách mạng để đạt tới mục tiêu chiến thắng, không chỉ ngoại xâm mà cả những “tàn dư của chế độ cũ”.
Đọc “Tạp chí Văn Sử Địa” và tiếp đó là “Nghiên cứu lịch sử”- cơ quan ngôn luận của Viện Sử học Việt Nam, cơ quan “quản lý nhà nước” trên lĩnh vực lịch sử dân tộc sẽ thấy quan điểm lập trường là “thẳng tuột” không nương nhẹ đối với những vấn đề lịch sử, đúng với tinh thần “đưa 4000 năm vào trận đánh”. Điều đó không chỉ diễn ra hồi đánh Pháp rồi Mỹ, mà cả thời “chống bành trướng”.
Đặt vào bối cảnh ấy, những vấn đề của các chúa Nguyễn nhất là Vương triều Nguyễn được đặt ra liên tục vẫn với tinh thần “phản đế, phản phong”, trừ các chiến công giữ nước của các triều đại phong kiến, mà thời các chúa Nguyễn hầu như chỉ diễn ra hình thái nội chiến (Trịnh-Nguyễn, Lê-Mạc, Nguyễn-Tây Sơn), có chăng là sự kiện các chúa Nguyễn đánh bại hạm thuyền Hà Lan ở Đàng Trong nhưng không có mấy ý nghĩa so với một đánh giá chủ đạo là tiêu cực. Còn với nhà Tây Sơn, với chiến công hiển hách dẹp bỏ phân chia Đàng Trong-Đàng Ngoài, đánh Xiêm đuổi Thanh thì đương nhiên được tập trung nghiên cứu đánh giá cao, đến mức có người coi đó là “cách mạng Tây Sơn”.
Nhiều đề tài đã liên tiếp được đưa lên mặt tạp chí để thảo luận nhưng chủ yếu là để khẳng định nhiều hơn, để tranh luận nhằm đánh giá trực tiếp hay gián tiếp triều Nguyễn thông qua các chủ đề như “ai thống nhất quốc gia”, “khởi nghĩa nông dân”... và các cuộc thảo luận về các nhân vật lịch sử như Phan Thanh Giản, Lê Văn Duyệt... cho tới cả Nguyễn Công Trứ... đều trở thành những diễn dàn để công kích nhà Nguyễn một cách triệt để.
Tại cuộc hội thảo vừa rồi, bài tham luận của nhà nghiên cứu Phan Thuận An từ cố đô Huế nhắc lại những đoạn trích trong lời giới hiệu bản dịch sách “Đại Nam thực lục” của Viện Sử học (1961) hay các bộ sách khi đó được coi là chính sử do Uỷ ban KHXH tổ chức biên soạn (Lịch sử VN tập I, 1971 , tập II, 1985) là sự lên án tuyệt đối với các lời lẽ nặng nề, mạt sát như: “Tối tăm, cực kỳ phản động, hủ lậu, mục nát, mù quáng, cực kỳ ngu xuẩn” v.v...dành cho thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn.
Quan điểm ấy có thể thấy được trong nhiều ứng xử xã hội như huỷ hoại các di tích có liên quan, xoá bỏ các hình thức ghi nhận như tên đường phố, trường học, các công trình công cộng tại các đô thị, thậm chí ngay cả với những “ông vua chống Pháp” như Duy Tân cũng bị bãi bỏ. Một thời gian dài quần thể di tích cố đô Huế bị bỏ mặc để trở thành phế tích sau những đổ nát của chiến tranh và lụt lội...
Nhà nghiên cứu xứ Huế cũng lần ra người đầu tiên trong giới “sử gia-công chức” là GS Trần Quốc Vượng- người sớm nhất đưa ra một đánh giá sáng sủa hơn trên tờ “Sông Hương” (Huế) vào năm 1987 khi ông bày tỏ :”Tôi không thích nhà làm sử cứ theo ý chủ quan của mình, và từ chỗ đứng của thời đại mình mà chửi tràn chửi lấp toàn bộ nhà Nguyễn cho sướng miệng và ra vẻ có lập trường. Có thời nhà Nguyễn chúng ta mới có một Việt Nam hoàn chỉnh như ngày nay”. Điều ông nói diễn ra một năm sau “Đổi mới”(1986) và sáu năm (1987) trước khi quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá nhân loại (1993).
Đổi mới nhận thức lịch sử
Có thể nói rằng chính cái nguyên lý khởi động công cuộc đổi mới là “Dám nhìn thẳng vào sự thật, nói lên sự thật” đã thúc đẩy và mở ra một điều kiện mới cho nhận thức lịch sử. Kể từ đó đến nay đã hơn hai thập kỷ thời gian gắn với đổi mới. Chính những yêu cầu của cuộc sống và phát triển đã đòi hỏi sự nhận thức quá khứ vượt qua được những quán tính của thời chiến tranh và cũng thoát ra khỏi những quan điểm ấu trĩ về đấu tranh giai cấp, về một chủ nghĩa duy vật lịch sử giáo điều.
Nhưng liệu có phải như cảm nhận của nhà nghiên cứu Phan Thuận An đứng trước sự đánh giá lại các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn, là như một “sự đảo lộn về nhận thức” hoặc tìm câu trả lời cho nhà thơ Nguyễn Duy, người đang làm bộ phim về ba ông vua yêu nước rằng: “Không hiểu tại sao và từ lúc nào lại bị biến dạng, bị hạ thấp một cách oan sai về thang bậc giá trị lịch sử và văn hoá của vương triều này”, và vì sao lại phải “khơi dòng lịch sử bị nghẽn” vào thời điểm này?
Thực ra những chuyển biến trong nhận thức về các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn đã khởi động qua cả một quá trình. Ai cũng biết khi vấn đề đấu tranh chứng lý để bảo vệ chủ quyền các quần đảo ngoài biển Đông, không thể không nhắc đến thời các chúa Nguyễn đã tổ chức những hình thức thể hiện quyền quản lý lãnh thổ gắn với những hành động vô cùng dũng cảm của những người lính phụng mệnh các chúa thực hiện nghĩa vụ của mình. Tấm bản đồ được vẽ thời vua Minh Mạng có dải “Vạn lý trường sa” là những bằng chứng đanh thép bảo vệ lợi ích quốc gia.
![]() |
Cũng trong năm 1988, giới sử học tổ chức kỷ niệm 130 năm thực dân nổ súnng xâm lược (1858) tại TP Đà Nẵng. Khi nghiên cứu kỹ chúng ta thấy triều đình thời Tự Đức hoàn toàn không buông vũ khí, mà đã tổ chức kháng chiến với một năng lực tổ chức và ý chí mạnh mẽ, khiến đạo quân viễn chinh không chiếm được địa đầu này, buộc chúng phải chuyển hướng đánh vào Nam bộ. Những khu mộ Tây Ban Nha và cả một “nghĩa chủng” (nghĩa trang liệt sĩ) của những ngưòi lính triều đình cho đến nay vẫn còn trong thành phố Đà Nẵng là bằng chứng...
Việc để mất nước là một trách nhiệm nặng nề và không thể bào chữa đối với triều Nguyễn. Tuy nhiên không thể đơn giản dùng chữ “bán nước” mà phải đi sâu vào những hạn chế lịch sử của dân tộc ta, chứ không chỉ của triều đình nhà Nguyễn đã không ứng xử được như Nhật Bản hay Xiêm (Thái Lan) khi ứng phó với nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa tư bản phương Tây.
Nhưng số phận của Việt Nam cũng là số phận chung của số đông các quốc gia phương Đông trước họa bành trướng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, kể cả nước Trung Hoa khổng lồ vào thời đại đó. Việt Nam không duy tân nổi đất nước có những nguyên nhân căn cốt của xã hội Việt Nam chứ không chỉ do sự tăm tối trong đường lối hay phẩm chất của bộ máy cai trị đất nước đương thời.
![]() |
Ta nghĩ gì khi đọc thấy trên vách của điện Thái Hoà, nơi trang trọng nhất trong cung đình triều Nguyễn bài thơ khắc trên gỗ với những vần thơ đầy khí phách và niềm tự tôn dân tộc của vị vua khai sáng triều Nguyễn :
“Văn hiến thiên niên quốc/ Xa thư vạn lý đồ/ Hồng Bàng khai tịch hậu/ Nam phục nhất Đường ngu”. Tạm dịch :“Nước ngàn năm văn hiến / Vạn dặm một sơn hà/ Từ Hồng Bàng mở nước / Thịnh trị nước Nam ta”.
Ta nghĩ gì khi biết rằng vua Gia Long đã truất quyền nối ngôi của Hoàng tử Cảnh, người con đã gửi gắm cho giáo sĩ Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) sang triều đình Versaille cầu viện mà không chịu giữ đạo thờ cúng tổ tiên, để trao ngai vàng cho Minh Mạng, con người đầy năng lực cải cách. Con người này đã hướng tầm nhìn ra biển, không chỉ vẽ hải đảo xa xôi trên bản đồ mà còn chỉ huy việc đóng tàu chạy hơi nước bọc đồng và cho người tham quan các tàu biển của Anh và Mỹ “học tập hàng hải biển để phòng khi cần”.
Ta nghĩ gì khi tiếp xúc bộ địa bạ hàng vạn trang do quan lại triều Nguyễn tổ chức đo đạc và biên vẽ, hầu hết các thửa ruộng trên cả nước để quản lý đất đai, hay tổ chức viêc mở mang kinh doanh mà tiêu biểu như doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ lập ra hai huyện lấn biển Tiền Hải-Kim Sơn hay Thoại Ngọc Hầu đào kênh Vĩnh Tế đến nay càng thấy tài giỏi v.v...
Đổi mới tư duy chính trị
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã từng đi thị sát con sông đào này với lòng thán phục quan lại và dân chúng xưa đã để lại một công trình mẫu mực của trị thuỷ kết hợp với quốc phòng và ngoại giao. Có thể nói thêm rằng chính cố TT đã là người động viên mạnh mẽ và thiết thực để tiến tới cuộc hội thảo vừa rồi. Đúng hơn, ông đã là người đồng hành và hỗ trợ cho những nỗ lực của giới sử học tổ chức từng buớc, thúc đẩy quá trình nhận thức lại, bắt đầu từ những việc nhỏ đến lớn.
Tôi không quên, sau cuộc hội thảo về “Thời Gia Long” do Hội Sử học t/p HCM tổ chức bị vài người “phát giác” với các nhà quản lý, khiến có một vài sự phiền phức đối với các nhà tổ chức, thì cuộc hội thảo tiếp theo về Lê Văn Duyệt được tổ chức ngay tại địa phương toạ lạc ngôi Lăng Ông.
Lãnh đạo địa phương trong thâm tâm rất ủng hộ việc làm này vì biết nó thuận lòng dân, nhưng đầy e ngại với những nhà quản lý cấp trên của mình nên né tránh xuất hiện. Ông Võ Văn Kiệt đã đến, ngồi lắng nghe các tham luận rồi phát biểu với những lời đánh giá biện chứng về một chính khách thời Nguyễn đã có công đối với vùng đất và thành Gia Định xưa.
Kết thúc hội thảo, ông ra thẳng Lăng thắp nén hương như một lời tạ lỗi. Cho đến cuối đời ông vẫn suy nghĩ về việc con đưòng Lê Văn Duyệt của Sài Gòn xưa đã bị xoá tên vào lúc ông đang có quyền, để rồi trước khi mất không lâu ông đã nói với những người có trách nhiệm của thành phố rằng cần sớm đặt lại tên của vị Tả quân tài năng nhưng bất hạnh này (vì bị cả vua Minh Mạng và cách mạng xử tệ).
Tết vừa rồi Hội Sử học VN cùng những người có tâm đức đã đặt một bức tượng đồng lớn vào Lăng của Ngài với sự đồng thuận của Cục Di sản (Bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch) và chính quyền như một sự kiện có ý nghĩa. Ông đã có mặt với một tinh thần cầu thị và quyết vượt qua những nhận thức hạn chế của quá khứ, đồng hành cùng giới sử học tổ chức các cuộc hội thảo về Trương Vĩnh Ký và Phan Thanh Giản.
Sau những cuộc hội thảo này ngôi trường tư thục mang tên Trương Vĩnh Ký đã ra đời, và mới đây bức tượng bán thân Phan Thanh Giản do chính cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cung tiến đã được đặt ở quê hương ông...
Gs Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Sử học VN tại cuộc hội thảo vừa rồi ở Thanh Hoá đã cho biết, chính cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vào ngay thời điểm đang chỉ đạo việc biên soạn bộ lịch sử do UBKHXH chủ trì đả phá quyết liệt các chúa Nguyễn và triều Nguyễn đã nói ở trên, cũng nhắc nhở những người tham gia biên soạn bộ sử ấy rằng, rồi “đến lúc nào đó” phải đánh giá lại chính những quan điểm của bộ sử này về các chúa Nguyễn và triều Nguyễn (?!) .
Có thể có nhiều cách nhìn nhận về vấn đề này, nhưng điều quan trọng hơn lời khen hay chê, chính là những đổi thay của đời sống đất nước, trong đó có đời sống sử học và đời sống chính trị. Nó phản ảnh một sự không cưỡng nổi của lẽ phải, của lòng người, của những giá trị về sự công bằng, nhưng cũng là sự thay đổi tích cực của một nền chính trị đang đổi mới và hội nhập, đang từng bước vượt qua những quán tính của một thời kỳ lịch sử đã qua, gắn với những yêu cầu của “chiến tranh-cách mạng”, khắc phục những ấu trĩ trên bước đường trưởng thành vì lợi ích phát triển của dân tộc.
Vĩ thanh
Tôi muốn kể lại một “kỷ niệm nghề nghiệp” cách đây cũng đã 15 năm khi vào Quảng Bình chủ trì việc tổ chức hội thảo về nhân vật Đào Duy Từ, một người tài năng bị chúa Trịnh bạc đãi nhưng được chúa Nguyễn biệt đãi. Ông chính là tác giả của Luỹ Thày bên sông Nhật Lệ và và Luỹ Trường Dục chặn đứng quân Trịnh bên dòng sông Gianh, chấm dứt binh lửa giữa hai thế lực, giúp các chúa Nguyễn rảnh rang phía Bắc để mở mang bờ cõi về phương Nam.
Mọi việc đã chuẩn bị chu đáo để hôm sau khai mạc hội thảo. Bỗng có tin vì có người bình luận rằng tại sao lại đề cao con người có tội đã đắp luỹ chia cắt đất nước khiến dân tộc phải mang “mối hận sông Gianh”, nên có thể nhiều vị lãnh đạo quan trọng của địa phương sẽ vắng mặt, cho dù trước đó đã hồ hởi nhận lời tham dự. Người chủ trì hội thảo của địa phương vô cùng lo lắng.
Tôi trấn an rằng hội thảo khoa học thì cứ tiến hành, hy vọng kết quả sẽ làm sáng tỏ “công-tội” của người xưa. Lan man sang những câu chuyện bên lề, có ai đó hỏi: “Học giả Đào Duy Anh có phải là hậu duệ cụ Đào Duy Từ không nhỉ?”. Tôi nói rằng không rõ, nhưng thường có chung họ, lại cả đệm nữa thì có thể không cùng nơi phát tích (quê) nhưng thường “suy cho cùng” thì rất có thể có chung dòng máu (thân tộc)...Câu chuyện lan man tiếp rồi đụng đến tên tuổi một nhà lãnh đạo quan trọng hồi đó cũng trùng họ và đệm với cụ Đào Duy Từ. Tôi cũng trả lời tương tự...
Thế rồi, cuộc hộithảo ngày hôm sau thành công rực rỡ, không chỉ vì chất lượng nội dung của nó mà còn vì, và rất quan trọng đối với địa phương là hầu hết các vị lãnh đạo ở tỉnh đều tham dự rất... hồ hởi.









