Làm thẻ “rồng xanh”
Sau tết Mậu Thân 1968, đối phó với những diễn biến mới đặc biệt là ở khu đô thị, chính quyền Sài Gòn quyết định thay đổi toàn bộ thẻ căn cước hiện hành (lưu trữ thẻ chỉ bản 5 ngón, theo kiểu cũ của Pháp) bằng loại thẻ rồng xanh theo công nghệ của Mỹ. Kế hoạch này dự kiến thực hiện trong vòng 4 năm, và như vậy, cho đến năm 1972, 14 triệu dân (từ 14 tuổi trở lên), kể cả công chức chính quyền ở miền Nam sẽ được cấp thẻ căn cước mới. Theo công nghệ này, toàn bộ hồ sơ lí lịch sẽ được lưu trữ thông qua hệ thống tàng thư căn cước, danh và chỉ bản 10 ngón theo phương pháp Galton – Henry (1) (phương pháp hiện đại nhất lúc đó), đồng thời được lưu giữ, bảo quản trong máy điện toán và sao chụp trên microfilm.
Cùng lúc đó ở Hà Nội, lãnh đạo Bộ Công an đã nhận được những bản báo cáo tin tức tình báo tương đối cụ thể về những hoạt động của lực lượng bên kia chiến tuyến. Một kế hoạch công phu và đầy táo bạo được triển khai. Cục KG1 (lúc đó là Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I, thuộc Bộ) nhận nhiệm vụ nghiên cứu để tìm ra phương pháp làm giả thẻ căn cước rồng xanh của Sài Gòn. Với sự phối hợp giúp đỡ An ninh Cộng hoà dân chủ Đức, đầu năm 1972 lực lượng công an đã có mẫu thẻ giống như thẻ rồng xanh của Sài Gòn cùng những phương tiện cần thiết cho một quy trình hoàn thiện. Tuy nhiên, thực hiện các công đoạn làm thẻ và việc cấp phát cho cán bộ chiến dịch hoạt động trong lòng địch đòi hỏi cần được tiến hành tại chỗ vì những lý do mà ở phần tiếp theo chúng tôi sẽ nói tới. Những cán bộ có trình độ nghiệp vụ thuộc lực lượng kỹ thuật hình sự và KGI được triệu tập để huấn luyện phương pháp, cách thức làm các loại giấy tờ giả của địch, trước khi lên đường tăng cường An ninh miền Nam .
Với nỗ lực và quyết tâm cao độ, chỉ trong một thời gian ngắn miệt mài làm việc, lượng kiến thức tưởng như khổng lồ ấy đã được các “kỹ thuật viên” tiếp cận, cập nhật một cách nhanh chóng và chính xác. Và ngay sau đó họ cấp tốc lên đường, mang theo trọng trách nặng nề - cấp phát những tấm thẻ căn cước giả của địch, mà nếu sai sót có thể ảnh hưởng tới sự an nguy của đồng đội mình trước họng súng kẻ địch.
![]() |
Họ hình thành từng nhóm, mỗi nhóm có từ 2 đến 4 đồng chí thuộc lực lượng kỹ thuật hình sự, các chuyên gia giám định tài liệu, phát hiện thật giả kết hợp với 1 chuyên gia khắc dấu của KGI. Có 4 đơn vị đã được hình thành, tổ chức và hoạt động cấp thẻ, gồm bộ phận ở Ban An ninh Trung ương Cục thuộc C51 (2), căn cứ tại Tân Biên, Tây Ninh và ở các khu, T1 (Đông Nam bộ, 4 đồng chí), T2 (Nam Trung bộ, 3 đồng chí), T3 (Tây Nam bộ, 3 đồng chí), và T4 (Sài Gòn – Gia Định, 2 đồng chí). Tất cả đều đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo các Ban An ninh và bắt đầu thực hiện việc cấp phát thẻ vào cuối năm 1972.
Trên thực tế, việc tổ chức hoàn thiện và cấp phát ngay từ ở căn cứ đã được triển khai một cách hết sức chặt chẽ và bí mật. Những người thực hiện không biết cấp phát cho ai, làm gì và ở đâu, họ chỉ được biết những nội dung cần thiết phục vụ cho việc làm thẻ và mọi việc đều được tiến hành theo mệnh lệnh trực tiếp từ chỉ huy cấp cao nhất trong Ban An ninh. Và tất nhiên, cũng không được phép ghi chép, lưu trữ bất cứ thông tin gì.
Trên bình diện toàn chiến trường miền Nam, ngoài việc cấp phát thẻ căn cước rồng xanh, do nhu cầu chiến trường, họ còn phải làm giả Thẻ miễn quân dịch cho đối tượng đang ở tuổi quân hoặc Giấy thông hành phục vụ các đồng chí hoạt động theo hành lang từ trung ương Cục về miền Tây Nam bộ qua Campuchia. Trong một số trường hợp đặc biệt, Trung ương Cục phải tổ chức mua thẻ căn cước rồng xanh của chính quyền Sài Gòn tại gốc (nơi cấp phát) hoặc mua bản mẫu rồi họ làm các công đoạn cấp phát còn lại.
Công đoạn đầu tiênlà nghiên cứu các đặc điểm của thẻ rồng xanh “thật”, trong đó quan trọng nhất là liên quan đến những đặc điểm để đối phó với cảnh sát Sài Gòn. Mỗi người dân chỉ có một số trên thẻ căn cước rồng xanh nhất định, trùng khớp với họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, quê quán, tên cha mẹ đẻ, địa chỉ nơi ở. Vì thế, người được cấp thẻ cần phải nhớ (thuộc lòng) để trả lời khi bị kiểm tra,\.
Cảnh sát tuần tra sẽ soi thẻ trong đèn cực tím. Ảnh chụp người được cấp thẻ không phát quang dưới tia cực tím, khác với tất cả các loại giấy ảnh có bán trên thị trường lúc đó, đều phát sáng trong tia cực tím.
Trên mặt thẻ căn cước rồng xanh có 5 con rồng màu xanh nhỏ, hình ô van, nằm về phía bên trái, được in trên lớp plastic thứ 2, sau lớp bảo vệ bên ngoài, phát quang màu xanh nhạt trong tia cực tím. Hình con rồng xanh to, nằm ở giữa, hơi lệch về bên phải, được in trên lớp plastic thứ 3, không phát quang.
Thẻ được ép bằng 6 lớp plastic, độ dày mỏng khác nhau, nên độ dẻo và độ đàn hồi rất tốt. Khi cảnh sát kiểm tra, có thể bẻ cong tấm thẻ rồi bỏ ra vẫn trở lại như cũ mà không hề có dấu nhăn, gẫy.
Tiếp theo họ phải tìm ra những đặc điểm để giám định, nhận biết. Thực tế phải thừa nhận rằng, để tổ chức cấp phát thẻ rồng xanh, chính quyền Sài Gòn đã xây dựng và tổ chức được một bộ máy chặt chẽ, kỷ luật nghiêm ngặt, đội ngũ nhân viên được đào tạo chính quy, hiện đại, có ý thức chống làm giả. Vì thế, việc phát hiện các đặc điểm bảo vệ chống làm giả thẻ căn cước thẻ rồng xanh là cực kỳ quan trọng trong hầu hết quá trình làm mẫu thẻ, như lưới bảo vệ, phương pháp in, mực in trên giấy, trên plastic, các điểm đánh dấu… Các đặc điểm được bảo vệ trong quá trình cấp phát thẻ như mô tả dấu vết riêng, lăn tay 2 ngon trỏ, chữ đánh máy, bộ số thẻ, hình dấu nổi… Hay các đặc điểm do những người cấp phát đánh dấu, như người đánh máy, người được phép ký… Đó cũng chính là những lý do mà việc cấp phát thẻ căn cước rồng xanh chỉ có thể được thực hiện trực tiếp ở chiến trường, nơi ngày đêm đối mặt với kẻ địch. Một điểm cần lưu ý nữa là, chính quyền Sài Gòn phân chia cho từng tỉnh, từng vùng những số thẻ căn cước nhất định và quy định thời gian cấp phát thẻ cho từng quận, huyện, phường, xã…
Công đoạn thứ hailà các bước tiến hành làm giả. Công việc được tiến hành tuần tự từng bước.
Bước thứ nhất, trang bị cho người được cấp phát thẻ căn cước rồng xanh vào vùng (x) hoạt động, một lý lịch đơn giản, hợp lý theo mẫu chính quyền Sài Gòn quy định. Có một mẫu thật được cấp cho một người ở vùng đó, hoặc đã sưu tập tích luỹ được thẻ cấp cho người dân ở đó mà họ đã chết hoặc mất tích.
![]() |
Riêng đối với Ban An ninh Trung ương Cục việc nghiên cứu các đặc điểm của hình dấu nổi là hết sức quan trọng vì con dấu loại này được làm tại đây (theo phương pháp ăn mòn kim loại) và cấp phát cho các T. Ở các T thì nghiên cứu các đặc điểm của hình dấu đóng bằng mực dấu. Cũng có một số trường hợp thật cần thiết, có thể làm giả con dấu theo phương pháp khắc dấu gỗ bằng tay. Các chuyên gia khắc dấu KGI sẽ đảm nhiệm công việc này.
Bước khó khăn nhất là tập ký giả chữ ký của người được phép cấp phát thẻ. Đây là công đoạn rất khó khăn, đòi hỏi người thực hiện phải kiên trì luyện tập nhiều lần. Dựa trên cơ sở nghiên cứu, nắm vững các đặc điểm của chữ ký thật, đường nét lên xuống, điểm giao cắt… người ký thậm chí phải luyện tập hàng chục ngày mới có thể ký giả được một chữ ký.
Tiếp theo là chụp ảnh, lăn tay, lấy dấu vết riêng, lấy chữu ký người được cấp phát thẻ, đầu trùm vải mũ đen (chừa mắt) sẽ làm việc với người cấp phát. Mọi việc đều diễn ra trong yên lặng và không được nói chuyện, trừ khi chụp ảnh, lấy dấu vết riêng trên mặt thì bỏ mũ trùm mặt ra trong giây lát.
Cuối cùng là hoàn thiện thẻ.Công đoạn này được tiến hành với từng công việc khác nhau, rất chi tiết và dễ nhầm lẫn, cũng vì thế, sự tập trung là hết sức cần thiết nhằm tránh những sai sót đáng tiếc. Một loại máy chữ đặc chủng… giống như máy của chính quyền Sài Gòn được sử dụng để đánh máy lí lịch đã có vào thẻ căn cước, và điểm cần lưu ý là đặc điểm đánh dấu của người đánh máy. Ngày tháng năm cấp phát trùng, hoặc gần trùng với ngày tháng năm ghi trên thẻ mẫu. Làm ảnh và dán ảnh vào thẻ cũng tương tự. Đóng số thẻ giống như số thẻ trên thẻ thật đã có. Bộ số này cũng đã được nghiên cứu và sản xuất giống bộ số của chính quyền Sài Gòn trước đó. Ký giả chữ ký người được phép cấp phát thẻ vào thẻ.
Dán, ép plastic cũng là việc đòi hỏi sự tập trung cả về trí tuệ và công sức, thời gian. Dụng cụ và phương pháp dán ép plastic giống với nguyên lý “vá chín” xăm lốp xe gắn máy. Gồm một bàn ép (cấu trúc được cải biến phù hợp cho việc ép thẻ), 3 tấm thép hình chữ nhật phẳng, mỏng, 2 tấm chất dẻo cũng mỏng và cách nhiệt. Vì cần sự chính xác của nhiệt độ và độ ẩm, nên phải làm thử trước khi dán ép thật. Trong quá trình làm thử phải tính thời gian nung nóng tấm thép và thời gian thẻ được ép trong bàn ép để tìm ra chỉ số chuẩn sao cho có hiệu quả cao nhất. Khi ép thẻ thật đặc biệt lưu ý sắp xếp các lớp plastic đúng vị trí.
Đóng dấu nổi là công việc sau cùng. Phần giáp lai bao giờ cũng phải ở phía bên phải, góc dưới của thẻ.
Tấm thẻ được hoàn thành. Cùng với nó, các chiến sĩ hoạt động trong vùng địch đã lọt qua bao con mắt kiểm soát gắt gao của cảnh sát Sài Gòn trên khắp chiến trường miền Nam . Điều đặc biệt là, sau giải phóng chúng ta tiến hành kiểm tra, tổng kết đã không có trường hợp nào bị phát hiện. Đây chính là bằng chứng rõ nhất khẳng định những chiến công của các chiến sĩ An ninh, trong những điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật hết sức thô sơ và sự khắc nghiệt của chiến trường, nhưng bằng ý chí và sức sáng tạo, họ vẫn tạo ra những “sản phẩm” chất lượng nhất, như những viên gạch hồng góp phần xây lên toà nhà hạnh phúc trong niềm vinh quang, tự hào của cả dân tộc.
Chú thích
1) Đây là phương pháp được tìm ra bởi hai tác giả Galton, người Đức và Henry, người Anh.
2) Tiểu Ban bảo vệ chính trị, Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam .










