Lại nói về môi trường nông thôn tại các làng nghề truyền thống
Chỉ tính riêng một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Bắc Ninh, Hà Tây (cũ), Hưng Yên, Hải Dương đã có hơn 200 làng nghề. Nói chung các làng nghề truyền thống không đến mức quá nghèo, thậm chí một bộ phận nông dân đã giầu lên vì thu nhập do ngành nghề truyền thống có thể chiếm đến 75% tổng thu nhập. Không hiếm hộ dân đã đạt trên 20 triệu đồng lãi một năm. Cũng chỉ tính 4 tỉnh nêu trên thì số người tham gia vào sản xuất (tái chế thép dân dụng, chế biến nông sản thực phẩm, dệt tơ lụa, tái chế giấy, thu gom và tái chế nhựa, hàng mây tre đan, sơn mài , đồ gỗ, v.v.) đã tới vài vạn người, chưa kể lao động làm thuê. Quá trình sản xuất và phát triển của các làng nghề đều mang tính kế thừa qua nhiều thế hệ, và trong làng nghề truyền thống thì sự phân công lao động nội bộ là sự kết hợp hài hòa giữa các thành viên trong một hộ gia đình, và qua mối quan hệ họ hàng, làng xóm và quen biết ở các địa phương khác mà thu hút lao động. Đặc điểm chung của các làng nghề truyền thống là khả năng kinh tế còn yếu, vốn nhỏ, công cụ sản xuất còn lạc hậu, máy móc chắp vá, tự tạo, không có hiệu quả cao. Thời gian gần đây, việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống có nhiều tiến bộ, nhiều nơi đã được tổ chức lại, mở rộng quy mô và trang bị máy móc để tạo đủ sản phẩm xuất khẩu theo hợp đồng. Đó là điều đáng mừng. Tuy nhiên, do phát triển tự phát, ồ ạt, khó kiểm soát nên đã dẫn tới hậu quả tai hại là môi trường tự nhiên ở nông thôn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tại các làng nghề, xuất hiện đủ dạng ô nhiễm môi trường: vật lý, hóa học và sinh học. Bức tranh tổng thể về ô nhiễm có thể hình dung được là: không khí bị ô nhiễm về nhiệt, tiếng ồn, hơi độc, bụi khói; không gian thì ngày càng thu hẹp lại vì bị chiếm dụng để xây dựng cơ sở sản xuất, nơi chứa nguyên vật liệu, chất đốt, sản phẩm và nhất là chất thải đủ các loại. Đất và mặt nước đang bị chất thải rắn và nước thải xâm hại. Điều này là không thể tránh khỏi trong điều kiện sản xuất thủ công, trang thiết bị cũ kỹ lạc hậu, nơi sản xuất gia công nằm ngay tại nhà ở; tận dụng bếp, sân, ao hồ làm nơi tập kết nguyên liệu. Đó là chưa kể tới việc sử dụng một khối lượng lớn vật tư, nhiên liệu, hóa chất và nước thải hầu hết chưa được xử lý chảy thẳng vào sông, hồ ao gây ô nhiễm môi trường nước. Hậu quả là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm đều bị ô nhiễm nặng về mặt sinh học và hóa học, gây nhiều bệnh hiểm nghèo cho cộng đồng dân cư làng nghề.
Trong sản xuất, hiện trạng về trang thiết bị cũng cần phải xem xét lại một cách nghiêm túc và đầy đủ hơn. Chẳng hạn, tại các làng nghề tái chế thép dân dụng, người ta đã sử dụng các thiết bị và lò đúc cũ kỹ, lạc hậu nhập từ Trung Quốc; trong chế biến lương thực thì chủ yếu sử dụng máy móc tự tạo, hiệu suất thấp. Việc tái chế sản xuất giấy tuy đã có đầu tư để hiện đại hóa thiết bị nhưng vẫn còn rất hạn chế, và chủ yếu vẫn sử dụng máy móc của vài thập niên trước. Hiện trạng này gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng thôn xóm. Tỷ lệ mắc bệnh chung có nơi xấp xỉ 50%; đặc biệt là các bệnh ung thư, ngoài da, mắt hột, đường ruột. Không ít địa phương đã tận dụng tối đa sức lao động thuê với giá rẻ thay vì phải đầu tư đổi mới công nghệ. Điều này có nghĩa là gây thêm hậu quả xấu về môi trường lao động cho những người nghèo trong xã hội.
Để giải quyết tình trạng ô nhiễm tại các làng nghề truyền thống, cải thiện môi trường nông thôn cần có các giải pháp hữu hiệu về quy hoạch xây dựng nông thôn đến giải quyết vệ sinh môi trường. Các giải pháp này cần có tiêu chí rõ rệt, hợp lý, kinh tế, dễ thực hiện, phù hợp với trình độ người dân từng vùng. Trước tiên, cần chú trọng tới quy hoạch chung và hạ tầng cơ sở. Từng bước đầu tư để giải quyết đường sá trong, ngoài thôn xóm cũng như hệ thống cấp thoát nước, thu gom rác thải, có bãi chứa rác hợp vệ sinh. Việc đề ra các giải pháp bảo vệ và cải thiện môi trường cho làng nghề phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của từng địa phương. Điều đó có nghĩa là đa dạng hóa giải pháp bảo vệ môi trường tại các làng nghề truyền thống. Tuy nhiên điều chính yếu là phải tìm được giải pháp tận dụng ưu thế và khắc phục các nhược điểm của từng làng nghề. Song dù ở địa phương nào và làm nghề truyền thống gì thì giải pháp về thu gom và xử lý chất thải đều phải đặt lên hàng đầu.
![]() |
Về nguyên tắc, cần phân biệt và thực hiện hai loại giải pháp để bảo vệ môi trường tại các làng nghề truyền thống: 1) Tổ chức quản lý sản xuất và 2) công nghệ - thiết bị sản xuất. Đối với giải pháp thứ nhất, cần tổ chức tốt việc sản xuất, trang bị dụng cụ an toàn lao động, cải tạo nhà xưởng, tổ chức không gian thông thoáng tự nhiên tại nơi lao động. Ngoài ra, phải có quy hoạch tổng thể về phân bố và sắp xếp các khu đất, cải tạo cơ sở hạ tầng, quy hoạch bãi chứa chất thải rắn, tăng cường trồng cây xanh. Đối với giải pháp thứ hai, cần kịp thời thay thế các thiết bị cũ kỹ lạc hậu, áp dụng công nghệ mới ít chất thải, hạn chế tiếng ồn và rung, sử dụng giảm thiểu hóa chất độc hại, trang bị các dụng cụ và thiết bị thu gom bụi, hút khí tại các vị trí xả khí độc hại, tránh ô nhiễm nhiệt do các lò nung, hầm sấy.
Môi trường nông thôn nói chung và môi trường làng nghề hiện nay là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm đối với toàn xã hội, về cả phương diện quy hoạch xây dựng và phát triển nông thôn. Mọi giải pháp tình thế, chắp vá, đầu tư không trên cơ sở quy hoạch theo hướng phát triển bền vững đều không mang lại hiệu quả mong muốn. Các giải pháp phải mang tính chủ động phòng ngừa, theo hướng sản xuất sạch để tiết kiệm năng lượng, vừa giảm mức tiêu hao năng lượng, giảm lượng phát thải chất ô nhiễm. Mục tiêu của giải pháp nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, đồng thời nâng cao vai trò của các làng nghề trong phát triển kinh tế -xã hội ở nông thôn.









