Lại giới thiệu bài "Hoắc hương chính khí tán"
Những nguyên nhân trên khiến cho những người có chính khí và tỳ vị vốn hư nhược dễ bị bệnh trước tiên, như đau bụng, nôn mửa, tiêu chảy. Nếu là cấp tính, dữ dội thì biến thành chứng hoắc loạn. Theo Đông y, hoắc loạn có nghĩa là do cảm nhiễm thời tà, do ăn uống, gây rối loạn giữa thanh khí và trọc khí ở trung tiêu tỳ vị. Ngày nay người ta thường gọi là viêm tràng vỵ cấp tính. Trong trường hợp này, nếu không được điều trị kịp thời, tân dịch trong cơ thể bị tiêu hao nhanh chóng, co gân “chuột rút” và sẽ dẫn tới tử vong.
Phương pháp điều trị của Đông y, từ xưa tới nay, bài thuốc được nhiều người ưa dùng để chữa chứng bệnh nói trên vẫn là bài “Hoắc hương chính khí tán”. Vị hoắc hương được đặt tên cho bài thuốc chính là kinh nghiệm chữa bệnh từ xa xưa của YHCT và cả trong dân gian đã dùng lá hoắc hương chữa chứng hoắc loạn. Về chữ Hán, hai chữ hoắc này đồng tự, đồng âm, chỉ khác là chữ hoắc của vị hoắc hương có bộ thảo đầu nên đã trở thành thảo dược, chủ yếu để trừ tà khí, thời tà. Bài thuốc gồm có:
Hoắc hương 12g
Đại phúc bì 10g
Bạch chỉ 08g
Tử tô diệp (lá tía tô) 08g
Bạch phục linh 15g
Bán hạ khúc 10g (chế gừng để lên men)
Bạch truật (thổ sao) 15g
Trần bì 10g
Hậu phác 10g (cạo bỏ vỏ thô, sao với nước gừng)
Cát cánh 10g
Trích cam thảo 06g
Công dụng của bài thuốc: Phương hương (những vị thuốc có mùi thơm) hoá thấp, giải biểu, hoà trung, lý khí. Để tăng thêm hiệu lực của bài thuốc người ta thường gia thêm các vị:
Sinh khương 3 lát
Táo 3 quả
Mộc hương 10g
Sa nhân 10g
Mạch nha 15g (sao vàng)
Đảng sâm 15g
Biển đậu 10g (sao vàng, chín)
Trạch tả 10g
Chưlinh 10g (không có chư linh gia xa tiền 15g)
Mộc qua 10g
Can khương 8g
Nếu nặng nữa có thể gia thêm nhục quế (quế tốt) từ 5 – 8g.
![]() |
| Hoắc hương |
Cách bào chế: Những vị thuốc nói trên sấy khô (trừ nhục quế và phụ tử để riêng không sấy), cho nhục quế và phụ tử vào cùng tán thành bột mịn tinh.
Cách uống: Mỗi lần uống 15g, cho thuốc vào ca hay cốc sành sứ hoặc nhôm, đổ nước sôi vào quấy đều rồi đun cách thuỷ sôi vài phút, lấy ra, uống lúc còn ấm. Mỗi ngày uống 3 lần. Trẻ nhỏ uống giảm 1/3 hoặc 1/2 tuỳ theo tuổi. Nếu không tán, bài thuốc và vị thuốc nói trên cũng coi là một thang thuốc sắc nên uống trong 2 ngày (uống ít, 3 – 4 lần trong ngày, uống nóng).
Bài thuốc này xưa nay có nhiều vị lương y thường dùng, có thể gia giảm theo kinh nghiệm của bản thân, để làm thuốc hoàn hoặc tán. Trên thực tế, không ít người bệnh ở nơi này hoặc nơi khác cũng đã được cứu chữa, qua cơn nguy khốn, hiểm nghèo, hoặc cũng đủ thời gian để đưa người bệnh đi bệnh viện cấp cứu.
Bài thuốc không cầu kỳ lắm song lại có hiệu quả rất tốt. Chúng ta có thể tham khảo hoặc vận dụng gia giảm tuỳ theo tình hình thực tế trên lâm sàng, nhằm góp một phần rất nhỏ bé vào việc bảo vệ sức khoẻ của cộng đồng không chỉ trong mùa viêm nhiệt này mà cả 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông.









