Kỹ thuật nuôi gà tập trung, bán công nghiệp
I. Kỹ thuật nuôi gà đẻ
1. Chuyển gà lên chuồng đẻ
Khi chuyển gà dễ bị stress, vì vậy trước 3 ngày chuyển cần cho gà ăn tự do và tăng cường vitamin trong thức ăn và nước uống cần có sẵn trong máng trước khi gà chuyển tới.
Hai tuần trước khi chuyển chuồng cần điều chỉnh cường độ ánh sáng trong chuồng nuôi hậu bị thích hợp với cường độ ánh sáng trong chuồng nuôi gà đẻ.
Trong vòng hai tuần trước khi bắt đầu đẻ, gà phải được chuyển hết sang chuồng gà đẻ để đủ thời gian phục hồi do ảnh hưởng stress bởi vận chuyển. Cố gắng vận chuyển đàn gà cả trống và mái càng nhanh càng tốt và vào thời điểm mát trời, ban đêm.
2. Mật độ
Tính chung cho cả đàn trống và gà mái cần 3,0 - 3,5 con/ m2. Mật độ thấp áp dụng đối với khí hậu nóng ẩm và nuôi nền. Mật độ cao áp dụng trong mùa lạnh khô, nuôi trên sàn.
Để duy trì mật độ nuôi nên chia thành các ô nuôi từ 300 - 500 con/ ô. Điều này sẽ tránh dồn gà vào các đầu chuồng có thể gây nên mật độ cục bộ không đều trong chuồng.
3. Máng ăn, máng uống
Đối với mùa nóng, nhiệt độ môi trường cao phải cung cấp nhiều máng ăn, máng uống hơn so với mùa lạnh, khô.
Nhu cầu máng ăn - Máng dài (cm/con) - Máng treo (máng 100 con) | Mùa nóng 12 6 | Mùa lạnh 10 5 |
Nhu cầu máng uống - Máng dài (cm/ con) - Máng treo (con/ máng) - Máng núm (con/ núm) | Mùa nóng 6 50 6 | Mùa lạnh 5 70 8 |
4. Nước uống
Cơ thể gà dự trữ lượng nước rất nhỏ cho nên luôn luôn phải có đủ nước sạch cho gà uống. Nước uống mát sẽ có tác dụng kích thích gà ăn tốt hơn.
Mức độ tiêu thụ nước cho 1000 gà mái đẻ/ ngày như sau:
Nhiệt độ ( 0C) | Tiêu thụ nước (ml) |
15 – 21 | 250 – 400 |
21 – 25 | 400 – 500 |
27 – 33 | 500 – 700 |
Ø 35 | Ø 700 |
5. Thức ăn
Áp dụng khẩu phần ăn cho gà đẻ ngay khi chuyển gà lên chuồng đẻ. Khi vận chuyển gà tới do bị stress lượng thức ăn tiêu thụ sẽ giảm. Vì vậy, trong giai đoạn đầu cần thức ăn mới, thơm ngon, hàm lượng dinh dưỡng có thể cao hơn để gà tiếp tục phát triển.
Năng lượng trong khẩu phần ăn tuỳ thuộc vào nhiệt độ chuồng nuôi. Nhiệt độ cao thì nhu cầu năng lượng thấp.
Protein và axit amin trong giai đoạn đẻ pha I (23 - 42 tuần tuổi) nhu cầu lớn hơn giai đoạn đẻ pha II (43 - 68 tuần tuổi). Ở pha I mức protein và axit amin trong khẩu phần ảnh hưởng lớn đến khối lượng trứng. Ở pha II sẽ kinh tế hơn nếu khống chế khối lượng trứng bằng việc giảm mức protein và axit amin trong khẩu phần thức ăn.
Canxi - photpho: nhu cầu về canxi tăng theo tuổi của gà và tỷ lệ đẻ. Còn mức photpho hấp thu nên giảm đi vào giai đoạn sau thời kỳ đẻ trứng.
Nguyên tố vi lượng và vitamin: những thành phần này đặc biệt quan trọng trong khẩu phần thức ăn của gà đẻ trứng giống vì ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp và nuôi sống gà con.
6. Chăm sóc gà trống
Gà trống thành thục về tính sớm hơn gà mái. Gà trống bắt đầu đạp mái từ 21 - 22 tuần tuổi. Tỷ lệ ghép/ mái thường từ 1/8 đến 1/9.
Cần quan sát kỹ những con gà trống, loại bỏ ngay những con gà ngả màu, yếu, đặc biệt những con gà trống hay đậu trên nóc ổ đẻ hoặc vào nằm trong ổ đẻ, vì những con trống nhút nhát này không đạp mái, chỉ gây cản trở và có thể làm bẩn, vỡ trứng trong ổ.
7. Ổ đẻ
Ổ đẻ phải được phân bổ đều trong chuồng nuôi. Tốt nhất đặt giữa chuồng để khoảng cách mỗi gà tới ổ đẻ đều là khoảng 5m. Nên dùng phoi bào khô sạch để lót ổ đẻ.
Số lượng ổ đẻ dủ cho gà đẻ tránh gà chen lấn làm vỡ trứng. Cửa vào ổ đẻ quay về phía có bóng râm để tạo sự hấp dẫn gà mái vào đẻ, không đẻ ra nền.
8. Thu nhặt và bảo quản trứng giống
Trứng giống là vật thể sống cần được chăm sóc ở mỗi thời điểm của giai đoạn sản xuất, bao gồm thu nhặt, vận chuyển và bảo quản. thu nhặt thường xuyên 4 lần, ngày, bảo quản ở phòng mát 13 - 18 0C, độ ẩm 75 - 80%. Sự phát triển của phôi bắt đầu từ 24 0C và tỷ lệ nở của trứng ấp bắt đầu giảm sau 5 ngày và giảm nhiều sau 7 ngày bảo quản, do vậy phải bảo quản trứng ở phòng mát như trên và không quá 7 ngày.
9. Ấp bóng của gà
Những trường hợp sau là nguyên nhân tạo cho gà ấp bóng:
- Nhiệt độ cao, thông gió kém, quá ít ổ đẻ, đẻ trứng dưới nền, không thường xuyên nhặt trứng trong ổ đẻ.
- Chất lượng thức ăn kém, gà hấp thu thức ăn thấp, nước uống không hợp lý (máng uống đặt quá xa).
- Có thể cai ấp bóng bằng cách tách riêng gà ấp bóng, tăng cường dinh dưỡng và nước uống, chế độ sáng không thay đổi. Kinh nghiệm dân gian còn buộc chân gà thẳng đứng hoặc thỉnh thoảng tắm cho gà…
II. Kỹ thuật nuôi gà thịt
Gà thịt (broiler) thể hiện nhiều ưu thế lai của các dòng, các giống lai với nhau giữa giống ngoại x ngoại hoặc giống ngoại x nội, cho nên có cường độ sinh trưởng, tốc độ cao đổi chất đều nhanh, khả năng chuyển hoá thức ăn cao, sức sống cao. Vì thế, thời gian nuôi gà thịt thường ngắn, chỉ chậm hơn các giống gà công nghiệp 1 - 2 tuần. Gà thịt lông màu có thể mổ thịt lúc 63 ngày tuổi đạt trên 2 kg lúc 84 đến 91 ngày tuổi đạt 2,2 - 2,4kg.
1. Chọn giống
Gà con được chọn tương tự nhủ chọn gà con làm giống. Chọn gà con từ gà bố mẹ khoẻ mạnh, không bị bệnh truyền nhiễm, gà con nhanh nhẹn, có khối lượng sơ sinh chuẩn của giống, loại những con khuyết tật, khoèo chân, hở rốn….
2. Giai đoạn nuôi gà con
Mật độ, nhiệt độ, thông thoáng, độ ẩm chuồng nuôi tương tự như nuôi gà bố mẹ, nhưng nuôi gà thịt cần có chế độ ánh sáng nhè nhẹ và cho ăn tự do theo nhu cầu khẩu phần cân đối dinh dưỡng.
- Chế độ ánh sáng:tuần đầu có ánh sáng 24 giờ/ ngày, tuần thứ 2 là 23 giờ; tuần thứ 3 trở đi 23 giờ/ ngày đêm. Cường độ chiếu sáng 1 - 3 tuần tuổi đầu; 3,5 - 4 w/m2 nền chuồng; 4 - 5 tuần tuổi 2 w/m2 chuồng; sau 5 tuần tuổi 0,2 - 0,5 w/m2. Những ngày trời nắng sáng quá cần che bớt chuồng, nhưng chú ý giữ độ thoáng, lúc chăn thả gà ở sân vườn thì cho gà vào nơi râm mát có bóng cây, hoặc cho gà vào chuồng.
- Dinh dưỡng thức ăn và cho ăn:
+Cho ăn: nuôi gà broiler không hạn chế thức ăn, cho ăn tự do theo nhu cầu, thời gian úm thức ăn nghiền nhỏ 1 - 1,5 mm, sau đó kích cỡ to hơn hoặc cho ăn thức ăn viên. Sau kỳ úm khi thời tiết tốt cho gà ra sân vườn, gà có thể kiếm nhặt thức ăn, cần chú ý cho gà ăn thức ăn đủ khẩu phần. Có thể cho gà ăn theo bữa sáng, trưa, chiều để gà ăn hết khẩu phần, không để gà đói quá 2 giờ.
Thức ăn phối chế đa nguyên liệu, cân đối thành phần dinh dưỡng, không dùng loại ẩm mốc nhiễm độc tố Aflatoxin, bột cá mặn, đỗ tương phải rang khử độc…
Máng ăn, máng uống đặt rải đều trong chuồng, sàn tính toán thuận tiện cho gà ăn, uống. Nên tạo điều kiện nuôi tách riêng trống, mái tiện cho việc xuất chuồng, thường gà trống mau lớn hơn xuất thịt trước, gà mái xuất thịt sau.
+ Chế độ dinh dưỡng thức ăn: nên tham khảo tài liệu về chế độ dinh dưỡng thức ăn cho gà lông màu nuôi thịt ở các tuần tuổi khác nhau. Xin gợi ý khẩu phần nuôi gà thịt thương phẩm và gà lai lấy thịt lông màu.
Nguồn: T/c Chăn nuôi, số 2 - 2009, tr 7
Bảng 1. Khẩu phần nuôi gà thịt thương phẩm và gà lai lông màu
Bảng 2. Khẩu phần nuôi gà thương phẩm thịt lông màu








