Kỹ thuật chăn nuôi trong nông hội; kỹ thuật chăn nuôi gà tập trung, bán công nghiệp
1. Kỹ thuật nuôi gà con (sơ sinh – 6 tuần tuổi)
Chăm sóc tốt sức khỏe ban đầu tạo tiền đề cho sự phát triển các giai đoạn sau. Gà con sinh trưởng tốt, sớm thích nghi với môi trường chăn nuôi. Đáp ứng đủ miễn dịch cần thiết để phòng chống bệnh tật.
Chuẩn bị đầy đủ thức ăn, thuốc thú y cần thiết cho đàn giống. Chất độn chuồng không bị nước và có độ dày 7 – 10cm được phun thuốc sát trùng (formol 2%).
Chọn gà con giống:Chọn những con nhanh nhẹn, mắt sang, lông bong, bụng gọn, chân mập. Tránh chọn nuôi những con gà khô chân, vẹo mỏ, khoèo chân, hở rốn, sệ bụng, lỗ huyệt bết lông.
Kỹ thuật úm gà con:Phải chuyển gà mới nở từ trạm ấp về chuồng nuôi càng sớm càng tốt, kể cả việc chuyển từ xa. Chuồng nuôi gà con phải được chuẩn bị từ trước khi gà về từ 12 – 14 giờ. Chuồng phải sạch sẽ, khô ráo, ấm áp, máng ăn, máng uống phải sẵn sàng. Cung cấp đủ số lượng, đúng loại chụp úm và đám bảo gà con có đủ chỗ để vận động một cách thoải mái trong khu vực úm. Sử dụng cót quây với chiều cao 50 cm, mỗi quay có đường kính 1,5 – 2m nuôi úm từ 100 – 150 con. Tùy theo số lượng gà mái quây rộng hay hẹp.
Giữ ấm cho gà:Gà con rất cần ấm vì nhiệt độ trong máy nở 37 oC khi đưa xuống nuôi cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh, không tự đièu chỉnh được thân nhiệt trong hai tuần đầu. Do vậy, việc giữ ấm theo nhu cầu cơ thể gà trong các tuần đầu rất quan trọng. Nếu không bảo đảm đủ nhiệt độ sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng, dễ phát sinh các bệnh đường hô hấp, tiêu hóa.
Thiết bị sưởi ấm:Có thể sử dụng chụp sưởi bóng điện, bóng hồng ngoại ở những nơi có điện hoặc đèn măng xông, bếp than, lò ủ trấu… ở vùng sâu, vùng xa (dùng bếp than sưởi ấm gà phải có ống dẫn khí thải ra ngoài để không làm ảnh hưởng đến đàn gà). Dụng cụ sưởi treo giữa quây trong ô chuồng, đặt cao hay thấp tùy theo phía cần nhiệt độ cụ thể ở các giai đoạn. Trong quá trình nuôi quan sát phản ứng của đàn gà đối với nhiệt độ để điều chỉnh thích hợp.
Sau 28 ngày nhiệt độ tối ưu cho sự tăng trưởng và mọc lông là 24 – 24 oC. Tuy nhiên, khi trời lạnh không nên giảm độ thông thoáng dưới mức yêu cầu tối thiểu nhằm tăng nhiệt độ ở chuồng nuôi lên. Do đó, cần thiết phải duy trì độ thông thoáng ở mức tối thiểu để tránh xảy ra bệnh tật.
![]() |
Gà con cần nhiều ánh sáng 24/24 giờ từ 1 – 3 tuần đầu, từ 4 – 6 tuần tuổi giảm dần còn 16 giờ, từ 7 – 18 tuần tuổi chiếu sáng 8 – 9 giờ một ngày. Thường chỉ cần chiếu sáng tự nhiên là đủ. Ánh sáng phải được phân bổ đều trên diện tích chuồng nuôi.
Mật độ nuôi: tùy thuộc vào điều kiện chuồng nuôi, mùa vụ, nhiệt độ môi trường mà quyết định mật độ nuôi thích hợp.
Nuôi nền, sử dụng độn chuồng:
1– 15 tuần tuổi: 10 – 15 con/m 2
6 – 9 tuần tuổi: 7 – 8 con/m 2
10 – 19 tuần tuổi: 5 – 6 con/m 2
>20 tuần tuổi: 3,5 – 4 con/m 2
Nuôi trên sàn lưới:
1 – 3 tuần tuổi: 20 – 15 con/m 2
4 – 12 tuần tuổi: 10 – 12 con/m 2
Chế độ dinh dưỡng thức ăn cần theo tiêu chuẩn khẩu phần thức ăn cho gà ở các giai đoạn tuổi khác nhau. Đảm bảo đầy đủ máng ăn để gà không chen lấn và ăn không đều. Trong 1 - 3 tuần đầu sử dụng khay ăn bằng tôn hoặc nhựa, với kích thước 3 x 50 x 80 cm cho 100 gà. Có thể sử dụng mẹt cho gà ăn.
Cho gà ăn từ 6 – 8 lần trong ngày. Lượng thức ăn mỗi lần cân đối đủ theo nhu cầu để thức ăn luôn được mới, sạch sẽ, kích thích tính thèm ăn của gà. Mỗi lần cho gà ăn cần loại bỏ chất độn chuồng và phân lẫn trong máng ăn để tận dụng cám cũ.
Để gà ăn ngon miệng thì thức ăn phải đảm bảo:
- Thức ăn mới có mùi thơm
- Không có nấm mốc
- Thức ăn đa dạng
- Thức ăn hạt ngũ cốc có số lượng hạt mịn ít.
Sau 3 tuần nên thay khay ăn bằng máng dài hoặc máng P 50cho hợp vệ sinh. Khi dùng máng treo cần phải thường xuyên điều chỉnh độ cao để gà được ăn một cách thoải mái và tránh thức ăn bị rơi vãi. Máng ăn cần thường xuyên được vệ sinh sạch sẽ.
Chiều dài máng ăn bình quân/gà như sau:
Tuần tuổi Khoảng cách (cm/con)
1 – 2 3 – 4
3 – 5 4 – 5
6 – 8 6 – 7
Nước uống là nhu cầu đầu tiên của gà khi ra khỏi máy nở. Nước cung cấp cho gà uống phải sạch. Tốt nhất nên đem phân tích để đánh giá chất lượng nước.
Gà con mới nở xuống chuồng không nên cho uống lạnh, tốt nhất là hơi ấm, khoảng 20 – 20 oC trong hai ngày đầu. Để tăng sức đề kháng trong những ngày đầu pha nước 5g đường glucose + 1g vitamin C/1 lít nước. Ngày đầu mới xuống chuồng, đầu tiên cho gà uống nước, sau 2 – 3 giờ mới cho thức ăn.
Máng uống nước sử dụng chụp nước uống tự động bằng nhựa, chứa 3,5 lít nước cho 100 con. Loại máng này nên kê cao hơn lớp độn chuồng để tránh độn chuồng rơi vào máng nước.
Vị trí đặt chụp nước có khoảng cách thích hợp với khay ăn để thuận tiện cho gà uống. Hàng ngày thay nước 2 – 3 lần để nước không bị ôi chua khi có thức ăn lẫn vào. Lượng nước uống thay đổi tuỳ theo lượng thức ăn vào, nhiệt độ không khí, khối lượng và tình trạng sức khoẻ của gà. Lượng nước uống thiếu sẽ làm giảm lượng thức ăn vào và giảm tốc độ tăng trưởng.
2. Kỹ thuật nuôi gà dò, hậu bị (7 – 23 tuần tuổi)
Giai đoạn gà dò, hậu bị là khoảng thời gian tạo nền tảng cho việc đẻ trứng sau này. Gà hậu bị tốt là phải có bộ lông óng mượt đạt khối lượng cơ thể theo chuẩn giống có bộ xương phát triển, gà không béo, không tích luỹ mỡ. Đàn gà có độ đồng đều cao, thành thục về giới tính đúng mục tiêu đặt ra, tỷ lệ nuôi sống cao. Có tính miễn dịnh đủ bảo hộ chống lại các bệnh thường xảy ra trong suốt thời gian nuôi gà dò, hậu bị và thời kỳ sinh sản.
Mật độ chuồng nuôi 5 - 6 con/m 2. Chế độ ánh sáng đối với gà 7 - 25 tuần tuổi, chỉ cần 8 - 9 giờ một ngày, sử dụng ánh sáng tự nhiên là đủ.
Chế độ dinh dưỡng thức ăn cho gà dò, hậu bị, căn cứ theo tuần tuổi để sử dụng khẩu phần ăn thích hợp. Sau 42 ngày tuổi, kết thúc giai đoạn gà con, phải chuyển sang chế độ nuôi ăn hạn chế cho gà dò hậu bị để gà không béo, sinh trưởng tuân theo quy trình kỹ thuật nuôi giống.
Khi thay khẩu phần ăn gà con sang thức ăn gà dò nên tiến hành từ từ:
- 2 ngày đầu 75% thức ăn gà con + 25% thức ăn gà dò.
- Từ ngày thứ tư 50% thức ăn gà con + 50% thức ăn gà dò.
- Từ ngày thứ sáu 25% thức ăn gà con + 75% thức ăn gà dò.
Mức năng lượng trong giai đoạn nuôi hậu bị thấp thì gà sẽ ăn nhiều hơn, do tính ngon miệng của gà rất cao. Nếu năng lượng được cung cấp quá nhiều trong giai đoạn hậu bị, tính ngon miệng sẽ giảm. Mức năng lượng trong khẩu phần ở giai đoạn nuôi gà dò, hậu bị cần thấp hơn giai đoạn gà sinh sản.
Mức protein cần thiết cho tăng trưởng và trong giới hạn nào đó mức protein cao trong khẩu phần sẽ làm cho gà tăng trưởng nhanh. Điều quan trọng nhất là cần phải duy trì sự cân bằng giữa protein và năng lượng, nếu không sự tăng trưởng sẽ gây trở ngại.
Việc hạn chế thức ăn cho gà theo khẩu phần trong giai đoạn hậu bị sẽ giúp cho gà giống có thể đạt đúng khối lượng và cấu trúc cơ thể vào thời điểm đẻ trứng. Khẩu phần ăn hạn chế khi cho gà ăn hàng ngày và hiệu quả thức ăn tốt hơn từ 8 – 10% so với 2 ngày ăn 1 ngày nghỉ hoặc 3 ngày ăn 1 ngày nghỉ.
Khi hạn chế thức ăn, cần có đủ máng ăn và thời gian để thức ăn vào máng phải rất nhanh không quá 4 phút để đàn gà được ăn cùng lúc hoặc có thể dùng ròng rọc kéo máng lên cao đổ thức ăn vào máng xong mới hạ xuống cho gà ăn cùng lượt (chiều dài máng ăn cho 1 gà 12 – 15 cm).
Kiểm tra khối lượng đàn gà, hàng tuần cân gà theo ngày giờ cố định, cân trước khi cho ăn. Số lượng cân mẫu 10 – 15% đàn, hoặc tối thiểu 30 con đối với những đàn gà có số lượng ít, để đánh giá độ đồng đều và kết quả chăm sóc nuôi dưỡng. Nếu đàn gà có độ đồng đều kém nên tách gà to và gà nhỏ hơn ra các ô riêng để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.
Ảnh hưởng của nhiệt độ đến nhu cầu tiêu thụ thức ăn của gà:
Đàn gà được nuôi trong điều kiện nhiệt độ môi trường xung quanh dưới 21 oC thì cơ thể cần nhiều năng lượng duy trì hơn. Nếu không cung cấp đủ năng lượng, mức tăng trưởng sẽ giảm khi nhiệt độ môi trường trên 21 oC thì nhu cầu năng lượng duy trì sẽ giảm xuống. Đàn gà nuôi trong điều kiện nhiệt độ không phải là 21 oC thì cần phải điều chỉnh cho phù hợp. Khi nhiệt độ môi trường tăng hoặc giảm 1 oC, lượng thức ăn tiêu thụ sẽ giảm hoặc tăng 1%.









