Kinh nghiệm nuôi ếch thâm canh ở Cẩm Xuyên
Thiết kế lồng nuôi
Lồng nuôi làm bằng cước (cước màu xanh có khả năng chống nóng tốt hơn màu trắng), cao 0,8 - 1m, diện tích 10m 2/lồng, có cửa phía trên cho ếch ăn. Đáy lồng trải một lớp xốp, trên đó trải một lớp phên tre, phên nứa nhằm giữ độ ẩm và làm sàn cho ếch. Mỗi lồng được đóng 6 cọc. đặt lồng cách đáy ao 20 - 30cm sao cho phần dưới lồng nuôi nổi trên mặt nước 0,5 - 0,8m.
Chuẩn bị ao nuôi
Ao nuôi có cống cấp, thoát nước. Trước khi thả ếch giống tiến hành cải tạo ao theo đúng quy trình kỹ thuật, bằng cách bón 12kg vôi sống/100m 2.
Thả giống
Sau khi cải tạo ao và chuẩn bị xong lồng, tiến hành thả giống. Nguồn ếch giống Thái Lan mua từ trại sinh sản nhân tạo của Công ty Cổ phần Lý Thanh Sắc. Mật độ thả 27 con/m 2, cỡ 160 - 190/kg.
Chăm sóc, quản lý
Trong quá trình nuôi, ông Tuyền cho ếch ăn chủ yếu bằng thức ăn công nghiệp dạng viên nổi nhập từ Thái Lan. Ngoài ra, còn dùng thêm thức ăn tươi như giun đất, côn trùng, các loại cám gạo, cám ngô trộn với bột cá.
Cho ếch ăn vào 6 giờ và 18 giờ trong ngày, lượng thức ăn bằng 4 - 5% trọng lượng ếch trong lồng.
Lưu ý, cứ sau 2 giờ cho ếch ăn tiến hành kiểm tra thức ăn xem thừa hay thiếu để điều chỉnh cho phù hợp. Không cho ếch ăn thức ăn đã bị ôi thiu, nấm mốc, có độ đạm thấp so với yêu cầu. Mặt khác, ếch có đặc tính hay ăn lẫn nhau nên trong quá trình nuôi phải thường xuyên tách con vượt đàn nuôi riêng.
Ban ngày theo dõi sự hoạt động của ếch, ban đêm thắp đèn ở khu lồng nuôi để bảo vệ ếch và nhử côn trùng đến cho ếch ăn. Phải luôn rửa sạch lồng nuôi, nhất là khi ếch lột da (da đã lột thường bám vào lồng làm hạn chế sự lưu chuyển của nước). Định kỳ hàng tuần thay nước 1 lần.
Sau 4 tháng nuôi, ếch đạt cỡ thương phẩm 160 - 160g/con. Tỷ lệ ếch hao hụt khoảng 40%. Thu được 13.500 con x 60% (tỷ lệ sống) x 175g/con x 35.000/kg = 49,612 triệu đồng. Trừ chi phí 38 triệu đồng(cải tạo ao 1 triệu đồng, giống 13,5 triệu đồng, thức ăn 18 triệu đồng, thuốc và hóa chất 1,5 triệu đồng, mua lồng 1 triệu đồng, nhiên liệu 3 triệu đồng), lãi 11,612 triệu đồng.
Nguồn: Kinh tế Nông thôn - Số 43 (477) - Thứ hai - Ngày 24/10/2005








