Kinh nghiệm nuôi cá điêu hồng trong ao
Điều kiện ao nuôi
Ao hay ruộng gần sông rạch, có nguồn nước ngọt tốt, thuận lợi cho việc lấy và thoát nước.
Ao hình chữ nhật, rộng từ 1.000m2trở lên, sâu trên 1,5m.
Bờ bao cao hơn đỉnh lũ hàng năm từ 0,5m trở lên.
Cần đặt cổng ở đáy ao để rút nước, khi thu hoạch hoặc xử lí thuốc, điều tiết nước theo thủy triều.
Kỹ thuật nuôi
Mật độ thả nuôi:Tùy chất lượng ao, nguồn nước và khả năng cung cấp thức ăn để quyết định mật độ thả, thường từ 3-5 con/m2, cỡ cá giống 3-7cm.
Chọn cá giống:Cần chọn cá ăn mạnh, bơi lội khỏe, màu sắc hồng tươi, đồng cỡ. Loại bỏ cá dị hình, màu nhợt nhạt, gày ốm, bơi lội lạc đàn, cỡ quá nhỏ hoặc quá lớn. Cần tìm nguồn gốc cá bố và mẹ, kỹ thuật sinh sản ương nuôi của cơ sở sản xuất có uy tín.
Thả cá giống ra ao:Thời điểm thả cá tốt nhất là vào lúc trời mát. Cho túi chứa cá vào nước ao trong 20-30 phút, để cá quen dần với nhiệt độ môi trường nước ao, kết hợp sát trùng cá giống bằng kháng sinh (Aureomycin hoặc Oxytetracylin) trong 5-10 phút. Sau đó kéo mạnh hai góc đáy túi cho cá ra ao toàn bộ.
Cho cá ăn:Thức ăn cho cá điêu hồng thiên về nguồn gốc thực vật như cám, bắp xay nhỏ, bã đậu, bèo tấm, rau muống và thức ăn viên dạng nổi có hàm lượng đạm cao từ 28-32%. Thức ăn cần được nấu chín, nhồi dẻo tạo dạng viên cho vào sàn ăn. Cho ăn ngày 2 lần vào sáng và chiều. Ngoài thức ăn thực vật, cần bổ sung thức ăn công nghiệp. Khẩu phần ăn 3 tháng đầu là 5-8% trọng lượng cá, các tháng sau giảm dần đến 2-3% trọng luợng cá. Chú ý kiểm tra thức ăn trên sàn để điều chỉnh luợng thức ăn phù hợp.
Chăm sóc
Kiểm tra nước:Đảm bảo độ sâu nước ao tối thiểu 1m, nước có màu xanh nõn chuối, vàng nhẹ phù hợp với cá nuôi. Ao phải bổ sung nước định kỳ 5-7 ngày/lần, mỗi lần 15-20% luợng nước ao hoặc tháo bỏ 1/3 nước ao và bơm nước mới vào.
Trong quá trình nuôi, nếu thấy bờ ao có hiện tượng nhiều phèn, phải chặn phèn sớm trước những cơn mưa đầu mùa (bón vôi trực tiếp lên mặt bờ, 10-15 kg vôi/100m2). Theo dõi diệt cá lóc, cá trê, lươn.
Kiểm tra tu bổ cống bọng, lấp kín các nơi rò rỉ, hang hốc.
Phòng trị bệnh
Bệnh do ký sinh trùng:Ao ương và nuôi phải có sục khí. Khi phát hiện cá bị bệnh cần bón Formol nồng độ 25-30ml/m3, trị thời gian dài và nồng độ 100-150ml/3nếu trị trong 15-30 phút; CuSO4(phèn xanh) nồng độ 2-5g/m3trị thời gian dài và từ 20-50g/m3trong thời gian 15-30 phút.
Bệnh xuất huyết cá:Cá có dấu hiệu toàn than xuất huyết, hậu môn sưng lồi, bụng trướng to, có dịch vàng hoặc hồng, đầu và mắt cá sưng và lồi ra.
Biện pháp để phòng là tránh thả nuôi và hạn chế thay nước lúc giao mùa. Định kỳ bón và khử trùng nơi cho cá ăn. Cách trị là bón vôi và khử trùng nước, có thể trộn kháng sinh vào thức ăn cho cá, tỷ lệ tùy theo tình trạng bệnh.
Cá trướng bụng do thức ăn:Thường xảy ra ở các ao, bè do cá ăn thức ăn tự chế không được nấu chín, không đảm bảo chất lượng và thành phần thức ăn để điều chỉnh cho phù hợp. Trong thức ăn nên bổ sung men tiêu hóa.
Cá chết do mật độ nuôi thả dày:Hiện tuợng này thường xảy ra ở các ao, bè nuôi thâm canh. Cá chết không có dấu hiệu bệnh lý, chỉ nổi lờ đờ và chết hàng loạt. Mật độ thích hợp để nuôi cá điêu hồng thịt là 100 - 120 con/m3.
Thu hoạch: Nuôi từ 4-5 tháng là thu hoạch được, giai đoạn này cá đạt trọng lượng trung bình 0,5 - 0,6 kg/con, nếu có điều kiện nuôi tiếp đến tháng thứ 9-10 thì trọng lượng cá đạt khoảng 1kg/con.








