Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 22/07/2009 23:47 (GMT+7)

Không khí – đó là hàng hoá

Khoản tiền mà các xí nghiệp công nghiệp trả cho lượng nước tiêu thụ hoàn toàn là tượng trưng và do đó nó không khuyến khích cắt giảm mức tiêu thụ nước. Vì vậy, sau cuộc khủng hoảng sinh thái đối với các xí nghiệp công nghiệp đã thiết lập những chế hạn tiêu thụ nước, tăng các biểu giá trả tiền nước tiêu thụ. Đã đưa vào thực hiện mức trả tiền về phát thải các chất độc hại và các nước thải hình thành từ nước tiêu thụ, nghĩa là khái niệm về các chất thải cho phép giới hạn (CCG) đã bổ sung thêm khái niệm tiêu thụ nước được hình thành trước đây.

Sựu hạn chế của một nguồn tự nhiên khác – không khí trong khí quyển (sau đây gọi tắt là không khí) đã nhận thức được ở cấp nhà nước thuộc phương Tây. Còn ở L.B.Nga các cơ quan nhà nước về giám sát sinh thái vẫn tiếp tục kiểm tra các khí thải vào khí quyển trong khuôn khổ CCG - chủ yếu kiểm tra hàm lượng các chất độc hại có mùi khó chịu, kể cả CO và CO 2. Trong trường hợp này người ta “kiêng” nhắc đến sự ô nhiễm không khí bởi thuỷ ngân, đioxin và cả α – methylstirol. Do không có khái niệm tiêu thụ không khí nên đã gia tăng sử dụng nó trong các mục đích công nghiệp, điều đã trở thành nguyên nhân giảm mạnh nồng độ oxy trong các khu nhà ở trong thành phố công nghiệp. Điều đó không chỉ làm xấu đi tình trạng sức khoẻ của dân cư thành phố, mà còn mâu thuẫn với quy phạm hiện hành về an toàn công nghiệp. Thí dụ, quy trình về an toàn khi tiến hành các công tác bên trong thiết bị (hiệu chỉnh, sửa chữa, lắp ráp…) cho phép hàm lượng oxy trong đó không dưới 18% theo thể tích (hàm lượng oxy trong không khí ở độ cao của người lớn không dưới 21% theo thể tích). Tình trạng không khí xấu đã được phát hiện cách đây vài năm một các ngẫu nhiên – khi điều tra các nguyên nhân và tình huống làm hỏng công việc trong các thiết bị đặt ngoài trời. Đã xác định được như sau: Những công việc đã không được phép thực hiện do không đủ nồng độ oxy trong không khí ở bên trong các thiết bị mắc dù những công việc chuẩn bị đã được tiến hành hoàn hảo, nhưng các thiết bị lại thông với không khí qua những nắp của đường kính gần 1m mở hoàn toàn. Hơn nữa, đã xác định rằngnồng độ oxy trong không khí đã dưới 18% theo thể tích và cách xí nghiệp vài km là khu nhà ở dân cư thành phố. Giả định một cách logic là vào thưòi gian lạnh của năm và thời tiết không có gió thì nồng độ oxy trong không khí có thể còn thấp hơn, nhưng không khí trong thành phố đã không được phân tích về hàm lượng oxy.

Rõ ràng không khí trong thành phố đã ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng của dân cư (uể oải, chóng mỏi mệt) được lý giải không chỉ do có sự hiện hữu của các chất độc hại, mà cả do thiếu oxy. Ảnh hưởng đó được dân cư phát hiện trong những ngày nghỉ, mùa hè, khi các người dân thành phố đi ra các nhà nghỉ, biệt thự… ở vùng quê. Bản hướng dẫn về quy phạm an toàn tiến hành các công việc bên trong các thiết bị quy định nồng độ tối thiểu của oxy trong không khí là 18% theo thể tích để người đàn ông khoẻ mạnh, đủ khả năng lao động có thể thở được mà không bị rủi do mất tri giác (ngất). Để hồi phục sức khoẻ cho người công nhân đó ngoài ngày làm việc và các thành viên của gia đình anh ta (có thể là những người ốm yếu, có tuổi, trẻ em kể cả các bé còn đang bú) cần phải có không khí với hàm lượng oxy cao hơn. Vì vậy không khí trong các thành phố công nghiệp cần được kiểm tra về hàm lượng oxy.

Việc tiêu thụ không khí trong công nghiệp ở ngay sát khu dân cư sinh sống của thành phố không thể không làm xấu đi chất lượng không khí. Chúng ta hãy thử nghiên cứu thí nghiệm sau đây: Việc thu được oxy và một phần nitơ trong công nghiệp từ không khí trong một xưởng cuả xí nghiệp hoá chất lớn có vẻ như hoàn toàn sạch về sinh thái so với các xưởng công nghệ khác. Tuy nhiên không khí được cung cấp đến xưởng đó từ khoảng cách gần nửa km từ khu vực đảm bảo vệ sinh với chiều rộng gần 2km bằng đường ống có đường kính 1m (nghĩa là xưởng công nghiệp đòi hỏi lượng không khí lớn sạch hơn). Trong việc tiêu thụ không khí, xưởng này cạnh tranh với thành phố. Oxy lỏng và nitơ được nạp vào các bình thép để bán cho các xí nghiệp khác; một phần oxy được sử dụng để cắt kim loại ở trong các xí nghiệp. Như vậy, để sản xuất ra sản phẩm hàng hoá – oxy lỏng tinh khiết – xí nghiệp sử dụng nguồn tự nhiên miễn phí để làm nguyên liệu là không khí. Trong trường hợp này nitơ thu được trong quá trình sản xuất đó, không được trả về khí quyển (theo quan điểm của kỹ thuật an toàn), mà được sử dụng trong các xưởng công nghệ khác, chủ yếu để tạo ra cái gọi là “những lớp đệm nitơ” trên chất được đựng trong các bể chứa, các thiết bị (với mục đích ngăn cản sự tiếp cận với không khí chứa oxy, những hợp chất nguy hiểm). Việc sử dụng khối lượng nitơ lớn đó dẫn tới đẩy ra những chất độc hại khỏi các bể chứa và làm xấu đi tình trạng của khí quyể trên mặt đất.

Việc sử dụng nitơ để đẩy hỗn hợp clorua – hydro cácbon từ khí acid clohidric ra ngoài bể chứa có thể dẫn tới phả huỷ chế độ công nghệ của các giai đoạn công nghệ tiếp theo đó, đồng thời làm ô nhiễm thêm các nguồn nước thải.

Vì kiếm lợi nhuận từ không khí với việc tách oxy từ không khí trực tiếp ở khu vực nhà ở trong thành phố và ở khoảng cách vài chục mét cách những khu nhà ở cao tầng xem ra rất không hay về cả mặt sinh thái, cũng như về mặt đạo đức. Trong trường hợp này có thể nói đúng ra là sự đánh cắp về sinh thái, sự bóc lột sinh thái.

Việc thu hồi oxy từ không khí trong công nghiệp mâu thuẫn với khái niệm các chất thải cho phép giới hạn (CCG) do các nguyên nhân sau: CCG của nitơ chưa đựợc quy định, CCG của nitơ chắc chắn và nhất quán sẽ được xác định bằng lượng oxy thu được. Nói cách khác: khi thực hiện triệt để khái niệm CCG chúng ta tất nhiên sẽ gặp phải sự cần thiết xác lập mức tiêu thụ không khí cho phép giới hạn (TKCG).

Chúng ta đã trình bày và phân tích một thí dụ hiển nhiên, nhưng chưa phải gây được ấn tượng mạnh nhất về những hậu quả tiêu cực của việc tiêu thụ không khí trong công nghiệp. Tuy nhiên việc phân tích thử đầu tiên đã dẫn đến những kết luận, không chỉ mới và hữu ích về khía cạnh phương pháp luận, mà còn có cả ý nghĩa thực tiễn. Từ những kết luận đó cần phải tạo ra các thiết bị mới tách oxy từ không khí sát ngay xưởng công nghiệp đã xây dựng từ trước có quy mô lớn hơn trên cơ sở luận chứng kinh tế của các chủ sở hữu thiết bị.

Số lượng và tính đa dạng của các hộ tiêu thụ không khí rất lớn. Vì vậy theo mức độ phân tích đã tổng quát hoá các kết quả đạt đựơc trong nhận thức về tình trạng bầu khí quyển của các thành phố. Tuy nhiên mọi người đều biết rất rõ một nguyên tắc không thay đổi đó là sự tiêu thụ không khí trong công nghiệp luôn luôn dẫn tới sự ô nhiễm khí quyển. Do đó cần phải lưu ý đến những chương trình phát triển những xí nghiệp công nghiệp liên quan đến sự gia tăng tiêu thụ không khí. Như vậy trong tương lai không xa có thể dự đoán sự ô nhiễm ra tăng đối với khí quyển trong các khu dân cư đông đúc nằm sát các xí nghiệp công nghiệp. Điều quan trọng là phải nhận thức đựơc kịp thời và kiên quyết đưa khái niệm về mức tiêu thụ không khí cho phép giới hạn (TKCG) vào cuộc sống nhằm giảm thiểu ô nhiễm bầu khí quyển của các thành phố. Việc đưa vào thực hiện các chế hạn về tiêu thụ không khí và trả tiền về sự tiêu thụ đó là công việc cấp bách của toàn xã hội.

Trong điều kiện hiện đại và giám sát khí quyển trong các thành phố công nghiệp chủ yếu cần phải thực hiện trong một hệ thống của nhà nước bằng các phương tiện tự động và tập trung và công khai những kết quả kiểm tra. Từ lâu mọi người đều biết rằng khả năng tái tạo sức lao động của người đàn ông ở cấp vi mô được xác định bởi độ ô nhiễm của không khí, thí dụ độ ô nhiễm bởi α – methylstirol. Mặt khác, sức khoẻ và sự phát triển tiếp theo của các đứa trẻ mới sinh ra cũng sẽ phụ thuộc vào tình trạng không khí để đảm bảo các điều kiện sức khoẻ cho mọi người ở các lứa tuổi có khả năng phát triển và nghỉ ngơi.

Triển vọng của việc đưa vào khái niệm TKCG, các chế hạn tiêu thụ và các khoản tiền trả cho việc tiêu thụ không khí có thể ảnh hưởng đến sự thay đổi lề thói của những hộ tiêu thụ không khí, rất có thể những hộ này lần đầu tiên trong suốt thời gian tồn tại ngành công nghiệp sẽ quan tâm đến việc tìm kiếm và khắc phục sự tiêu thụ không khí không suy nghĩ, thiếu căn cứ xác đáng và không hiệu quả. Vì thế cho nên sẽ nảy sinh những mối hoài nghi về tính đúng đắn của chính sách kỹ thuật đang hình thành. Tuy nhiên chỉ có thể hi vọng sự thay đổi thực tế của chính sách kỹ thuật, phương pháp luận về hoạt động khoa học và khoa học ứng dụng sau khi đưa các chế hạn tiêu thụ và các khoản tiền trả cho việc tiêu thụ không khí vào cuộc sống. Việc tăng mức tiền trả, đặc biệt trong trường hợp vượt các chế hạn quy định về tiêu thụ không khí có thể buộc các hộ tiêu thụ lớn tự mình nghiên cứu triển khai, áp dụng và hoàn thiện những công nghệ đang sử dụng không khí. Cùng với tình trạng không khí ngày một xấu đi, những chế hạn tiêu thụ sẽ phải cắt giảm, biểu giá sẽ tăng, các hộ thiêu thụ sẽ có thể phải có những biện pháp tái sử dụng, sử dụng nhiều lần, làm sạch hoặc chế biến không khí đã qua sử dụng, thậm chí cả khói. Việc tạo ra các chu trình khí khép kín, sản xuất oxy cho việc tiêu thụ trong công nghiệp (bằng các phương pháp điện – hoá và hoá học) hiện nay chưa thực hiện được nhưng sẽ có thể thực hiện đựơc sau khi có những thay đổi đột ngột về nhận thức của xã hội trong tương lai.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.