Khốc liệt sự cạnh tranh về môi truờng của ngành chăn nuôi
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi cũng được coi là một trong 3 ngành có tác động lớn đến môi truờng (Chăn nuôi – Công nghiệp và Dịch vụ) hiện nay.
Tăng truởng nhưng không bền vững
Cùng với sự tăng dân số và thu nhập, nhu cầu về các sản phẩm từ thịt và sữa ngày càng tăng. Tổng nhu cầu tiêu thụ thịt trên toàn thế giới được dự đoán là sẽ tăng gấp đôi, từ 229 triệu tấn năm 1999 lên 465 triệu tấn vào năm 2050, và sản lượng sữa cũng sẽ tăng từ 580 lên 1043 triệu tấn trong cùng thời gian này. Đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng, ngành chăn nuôi đã có nhiều thay đổi.
Xu hướng công nghiệp hóa và chuyên môn hóa ngày càng tăng. Khu vực sản xuất cũng chuyển dịch dần từ vùng nông thôn đến vùng đô thị và ven đô, đến gần hơn với người tiêu dùng nên cũng là một nguyên nhân lớn cho ô nhiễm và dịch bệnh dễ phát sinh với quy mô rộng và phức tạp hơn. Theo số liệu từ Tổ chức Lương – Nông Liên hợp quốc (FAO), số lượng gia cầm chết hoặc bị tiêu huỷ đã lên tới hơn 220 triệu con. Tính đến cuối năm 2006, thế giới có 157 người bị chết vì cúm gia cầm, trong đó Indonesia chiếm nhiều nhất, 54 người…
Ở Việt Nam, tốc độ tăng truởng đàn của các loài được nuôi cũng được duy trì mức tăng truởng dương cao (số lượng đàn trâu tăng trung bình năm 2007 là 2,58%/năm, đàn bò thịt tăng 3,29%/năm, dê, cừu tăng 16,55%/năm, ngựa tăng đợt dịch bệnh hầu như chưa bao giờ dừng lại, ví dụ tính đến ngày 30/8/2007 cả nước có 36 tỉnh xuất hiện dịch nở mồm long móng với tổng số gia súc mắc bệnh là 7.442 trâu, bò và 10.851 lợn, số gia súc chết và tiêu huỷ là 1.047 trâu bò và 10.763 lợn. Đặc biệt các bệnh từ vật nuôi lây sang người cũng đang có chiều hướng tăng. Theo báo cáo của Cục y tế dự phòng, Bộ Y tế năm 2007 cả nước có 42 người mắc bệnh do liên cầu khuẩn lợn, trong đó 2 người đã tử vong và 2 thể bệnh viêm màng não và nhiễm huyết trùng. Còn năm 2006 virút H5N1 đã làm 36 người thiệt mạng trong số 71 người nhiễm.
Với sự chuyển dịch này, ngành chăn nuôi đang trở thành một đối thủ không kém cạnh tranh trong cuộc chạy đua về tiêu tốn đất đai, nước và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác so với các ngành công nghiệp, dịch vụ.
Bản báo cáo mới đây của Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc (FAO) cho thấy ngành chăn nuôi đã và đang gây ra những vấn đề môi truờng nghiêm trọng như thoái hóa đất, biến đổi khí hậu và ô nhiễm không khí, thiếu nước và ô nhiễm nước, mất đa dạng sinh học.
Tổng diện tích dành cho chăn nuôi chiếm 26% diện tích bề mặt không phủ băng tuyết của Trái đất. Thêm vào đó là 33% diện tích đất trồng được dành để sản xuất thức ăn cho chăn nuôi. Tổng cộng, ngành chăn nuôi chiếm 70% diện tích đất nông nghiệp, tương đương 30% diện tích bề mặt Trái đất.
Mở rộng diện tích dành cho chăn nuôi là một trong những nguyên nhân chính làm mất rừng. Tình trạng này xảy ra rất phổ biến trên tòan thế giới nhưng đặc biệt nghiêm trọng ở khu vực Nam Mỹ. Rừng Amazon – khu rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới đang bị tàn phá với tốc độ khủng khiếp để chuyển đổi thành đồng cỏ chăn nuôi và đất trồng thức ăn gia súc.
Mất rừng làm cho đất bị xói mòn vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô. Khoảng 20% diện tích đất đồng cỏ và đất rừng, trong đó khoảng 73% diện tích đất rừng nằm trong vùng khô hạn đã bị thóai hóa do các tác động của ngành chăn nuôi.
Biến đổi khí hậu với các hiện tuợng như tăng nhiệt độ, tăng mực nước biển, tan băng, thay đổi các dòng hải lưu và các hiện tuợng thời tiết cực đoan…đang từng ngày đe doạ sự tổn vong của loài người. Trong đó, ngành chăn nuôi phải chịu trách nhiệm về 18% trong tổng lượng phát thải khí nhà kính của tòan cầu, cao hơn cả ngành giao thông vận tải.
Lượng phát thải CO 2từ chăn nuôi chiếm 9% tòan cầu, chủ yếu là do hoạt động chuyển đổi mục đích sử dụng đất - đặc biệt là phá rừng để mở rộng các khu chăn nuôi và các vùng trồng cây thức ăn gia súc.
Ngành này còn thải ra 37% lượng khí metan CH 4(một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính gấp 23 lần CO 2), 65% lượng khí NO x(có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 296 lần CO 2)và tạo ra 2/3 tổng lượng phát thải khí a-mô-ni-ắc, nguyên nhân chính gây mưa axit phá huỷ các hệ sinh thái.
Thế giới hiện đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nước ngọt nghiêm trọng. Theo dự đoán đến năm 2025, 64% dân số thế giới sẽ phải sống trong điều kiện căng thẳng về nguồn nước. Trong khi đó, sự phát triển của ngành chăn nuôi càng làm tăng nhu cầu sử dụng nước.
Hiện nay, ngành chăn nuôi đang chiếm khoảng 8% tổng lượng nước loài người sử dụng trên tòan thế giới. Nhưng vấn đề nghiêm trọng nhất mà nó gây ra đối với môi trường nước chính là nước thải. Nước thải của ngành chăn nuôi chứa nhiều chất ô nhiễm như chất kháng sinh, hoocmon, hóa chất, phân bón, thuốc trừ sâu.
Chúng đang huỷ hoại các vùng ven biển, các bãi san hô ngầm, gây ra nhiều vấn đề sức khoẻ cho con người và các vấn đề khác. Ngòai ra, ngành chăn nuôi còn làm giảm lượng nước bổ sung cho các mạch nước ngầm do mất rừng và đất bị thóai hóa, chai cứng, giảm khả năng thẩm thấu.
Tất cả những tác động tiêu cực của ngành chăn nuôi đến môi truờng đất, nước, không khí và khí hậu đã dẫn đến một kết quả tất yếu đối với hệ sinh thái Trái đất, đó là sự suy giảm đa dạng sinh học.
Theo báo cáo của WWF, trong số 825 vùng sinh thái trên cạn của Trái đất có 306 vùng bị tác động bởi ngành chăn nuôi. Còn theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới (Conservation International) thì có đến 23 trong tổng số 35 “điểm nóng về đa dạng sinh học” bị ảnh hưởng bởi ngành chăn nuôi.
Sách đỏ về những Loài bị đe doạ của Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Thế giới (IUCN) cũng cho thấy hầu hết những loài đang bị đe doạ trên thế giới là do mất đi môi truờng sống, mà chăn nuôi là một trong những nguyên nhân hàng đầu.
Đi tìm giải pháp
Nguyên tắc chung để hạn chế tất cả những tác động tiêu cực do hoạt động chăn nuôi gây ra đối với môi truờng là cải thiện, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lợi tự nhiên.
Các biện pháp kỹ thuật như phục hồi độ che phủ đất, xử lý nước thải, chất thải chăn nuôi, làm hầm biogas, nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong tưới tiêu, quay vòng nước trong các trang trại chăn nuôi…cần phải thực hiện ngay truớc khi quá muộn. Bên cạnh đó, cần phải có quy định cụ thể về quy mô, các yếu tố đầu vào, vấn đề chất thải và xử lý chất thải…
Hiện nay, hầu hết các nguồn tài nguyên như đất, nước, các hồ xả thải đang được ngành chăn nuôi sử dụng thoải mái không phải trả phí hoặc với mức phí thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực của nó. Chính điều này đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển một cách ồ ạt, không có quy hoạch và gây ra nhiều vấn đề môi truờng. Thậm chí ở nhiều quốc gia còn có những khoản trợ cấp vô lý cho những người chăn nuôi. Những khoản trợ cấp không thích hợp này vô tình đã khuyến khích họ thực hiện các hoạt động gây hại môi trường.
Do đó, cần phải thay đổi khung chính sách dành cho ngành chăn nuôi. Công việc ưu tiên hàng đầu hiện nay là điều chính các loại phí tài nguyên và phí xả thải sao cho hợp lý cả về mặt kinh tế và môi truờng, xoá bỏ các hình thức trợ cấp phi lý trong ngành chăn nuôi, thanh toán các dịch vụ môi truờng, đặc biệt là các dịch vụ liên quan đến hệ thống chăn thả quảng canh như phục hồi đất, khôi phục cảnh quan thiên nhiên và môi truờng sống cho các loài hoang dã, cố định carbon, trồng rừng…
Nói tóm lại, cần thiết phải xây dựng các khung chính sách cho ngành chăn nuôi ở phạm vi địa phương, quốc gia và quốc tế. Để thực hiện được điều này đòi hỏi cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức.
Cần phải tăng cuờng hiểu biết và kiến thức về những rủi ro môi trường có thể xảy ra do hoạt động của ngành chăn nuôi cho các nhà hoạch định chính sách, các cán bộ quản lý, những người chủ trang trại và những người chăn nuôi ở quy mô gia đình.








